Hột lúa
Giã từ đồng ruộng dạo xa chơi
Thiên hạ ai mà chẳng biết hơi
Cởi giáp vàng kia phơi chốn chốn
Bày da ngọc nọ rạng nơi nơi
Ông cha giúp nước đà ghe thuở
Dòng giống nuôi dân biết mấy đời
Vì thế liều mình cơn nước lửa
Người đà có thấu, hỡi người ơi!
Phan Văn Trị
Hạt thóc
(Họa nguyên đề)
Thiếu bạn nguy liền, chẳng nói chơi
Giàu sang, nghèo khó cũng quen hơi
Áo vàng sắc sảo danh cùng chốn
Dạ ngọc nồng nàn tiếng khắp nơi
Nước lửa dạn dày xoay mấy lượt
Nắng mưa dầu dãi trải bao đời
Vì dân, vì nước không ngần ngại
Xứng xếp công đầu, hạt thóc ơi!
Nắng Xuân
Đọc bài thơ "HỘT LÚA"
của nhà chí sĩ yêu nước Phan Văn Trị
Nhà chí sĩ yêu nước Phan Văn Trị là người đại diện tầng lớp sĩ phu yêu nước, chống đối lại thái độ hợp tác với địch nhưng lại ngụy biện tự cho mình là người trí giả, thức thời mà đại diện là Tôn Thọ Tường. Bài thơ “Hột lúa” của cụ Cử Phan Văn Trị là một bài thơ hay viết theo thể thơ Đường luật, kiểu thất ngôn bát cú, chính vận. Chủ đề tư tưởng của bài thơ là mượn hột lúa nói lên chính khí của ông và các sĩ phu đương thời, những người bạn đồng chí của ông.
“Giã từ đồng ruộng dạo xa chơi
Thiên hạ ai mà chẳng biết hơi”
Mới đọc hai câu đầu có thể nghĩ tác giả muốn nhắc đến một loại sản phẩm nông nghiệp (giã từ đồng ruộng) rất phổ biến (ai mà chẳng biết). Thực ra Cụ nói “hột lúa” nhưng đâu phải chỉ đơn thuần là “hột lúa”! Giã từ “đồng ruộng”, hay giã từ quê hương, giã từ nghiệp quan trường đầy gai góc, nhuốc nhơ? Thi đậu, nhưng Cụ không thèm làm quan, không thèm hợp tác với quân thù, không thèm làm công cụ để giúp thực dân cai trị bà con ta. Chính vì lẽ đó mà “thiên hạ” ai ai cũng biết Cụ, người đương thời vị nể Cụ, cháu con nhắc Cụ. Đây là lối “mở” gián tiếp, nhưng vẫn đủ dữ liệu để người ta biết chủ đề của tác phẩm.
Cách gieo vần ở 2 câu này chưa thật sự ngọt do “chơi” và “hơi” cùng thanh. Tuy vậy, ở câu thứ hai, chữ “mà” trầm thấp đã khắc phục phần nào yếu điểm về nhạc điệu. Chữ “hơi” không phải là từ đẹp, có thể do ảnh hưởng bởi cuộc bút chiến lịch sử với Tôn Thọ Tường, nên giọng văn của Cụ vẫn đượm phần nào tính châm biếm, hài hước.
“Cởi giáp vàng kia phơi chốn chốn
Bày da ngọc nọ rạng nơi nơi”
Hai câu “trạng” thể hiện bút pháp tài tình, khả năng phát hiện tinh tế, sự khai thác khéo léo được kết hợp với nghệ thuật ví von làm nâng hẳn giá trị của câu thơ. Nếu câu 3, hạt lúa được cụ Cử khoác cho bộ kim giáp oai phong của viên chiến tướng lẫm liệt, uy nghi trong ngày lễ khải hoàn thì câu 4 người đọc tưởng như được chiêm ngưỡng một bông hoa quốc sắc thiên hương mà vẻ kiều diễm đã vượt ngoài biên ải. “Giáp vàng” đối với “da ngọc” thật cân xứng, thật quý phái!
“Ông cha giúp nước đà ghe thuở
Dòng giống nuôi dân biết mấy đời”
Hai câu “luận” này mới là cốt lõi của bài thơ, là điều tác giả muốn bày tỏ. Sống dưới ách thực dân, người yêu nước phải biết phát huy truyền thống ông cha, dốc lòng vì nước vì dân. Nếu chưa đủ điều kiện đánh đuổi quân thù giành độc lập, tự do cho Tổ quốc thì cũng làm hết sức mình để ủng hộ phong trào, chí ít thì cũng làm được điều gì đó có ích cho dân mà đa số sĩ phu yêu nước thời đó (Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Sinh Sắc…) lựa chọn là dạy sách thánh hiền và bốc thuốc độ nhân. Nghệ thuật phóng dụ, ngụ ngôn (mượn vật giáo dục người, mượn cảnh nhắc đời) đã được sử dụng.
“Vì thế liều mình cơn nước lửa
Người đà có thấu, hỡi người ơi!”
Câu “kết” đầu tiên mới thật sự là tuyệt bút! Sự thăng hoa của bút pháp thể hiện đầy đủ trong câu này. “Hột lúa” không chỉ là hột lúa bình thường mà vòng đời phải trải qua bao lần “nước lửa” mới thành cơm: phải “hai lạnh, 3 sôi” ngâm giống, ủ mầm, gieo mạ, nhổ lên, chịu xén đi một phần da thịt, rồi đem cắm xuống bùn sâu, lớn lên, dãi dầu sương nắng, mang nặng trổ đòng, kết bông, cắt, đập, phơi, xay, giã, nấu… Mấy chục năm sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Nghe tiếng giã gạo” có thể nói là một sự tiếp nối có tính kế thừa.
“Hội lúa” đã hóa thân thành người chiến sĩ có lý tưởng vì nước, vì dân, không sợ hy sinh, gian khổ, khó khăn, liều mình trước bom rơi, đạn nổ. Câu 8 thể hiện ước muốn đơn giản là được người đời trân trọng, được hiểu đúng lòng mình. Đã lựa chọn con đường tranh đấu, người chiến sĩ không đòi hỏi gì hơn cho riêng họ. Câu 7 đã nói đủ ý, hết ý, tự nhiên nhiệm vụ “kết bài” của câu 8 trở nên đơn giản.
Bài thơ, mới đọc tưởng như bình thường, nhưng càng ngẫm càng thấy ý tứ sâu xa, nghệ thuật độc đáo, chứa đựng cả tư tưởng và tấm lòng của một nhân cách đáng nể phục. Qua đó ta càng tin tưởng những giai thoại về tài ứng đối của cụ Cử họ Phan là có cơ sở. Nhân kỷ niệm 98 năm ngày mất của Cụ, xin trân trọng giới thiệu bài thơ này đến bạn yêu thơ.
Cần Thơ, ngày 27 tháng 6 năm 2008
HOA HUỆ
Mảnh mai cành huệ trắng tươi xinh
Giữa vạn ngàn hoa, khép nép mình
Dìu dịu hương trinh, khuya tỏa ngát
Mịn màng màu tuyết, sớm lung linh
Hiền hòa, rạng rỡ ngời dương ánh
Thùy mị, đoan trang rạng nguyệt hình
Mong được hồn thơ như huệ nhỉ
Thỏa lòng trao bạn gửi tâm tình.
Hồng Hà
HUỆ
(Cẩn họa “Hoa Huệ” của Hồng Hà)
Trước sân khóm huệ mặn mà xinh
Khiêm tốn, phải hoa tự nhún mình?
Ngào ngạt mây hương, trôi phảng phất
Trắng trong tuyết sắc, rắc lung linh
Dịu dàng, lịch lãm, đoan trang nết
Duyên dáng, mảnh mai, yểu điệu hình
Tao nhã hồn thơ trong nhụy thắm
Cho ta chôn giấu khối chân tình.
Nắng Xuân
KHÚC TÂM TÌNH CỦA NGƯỜI VỚI HOA
(Nhân đọc bài thơ “HOA HUỆ” của tác giả Hồng Hà)
Vẻ đẹp của thiên nhiên luôn là đề tài bất tận của thi nhân. Một nhành huệ trắng tươi xinh, tinh khiết, mịn màng như hoa tuyết, dìu dịu tỏa hương phảng phất canh khuya đã đánh thức tác giả Hồng Hà (Nguyễn Tam Lược). Thưởng hoa và ngây ngất vị đời đã thôi thúc nhà giáo về hưu ở lứa tuổi thất tuần này cầm bút viết bài thơ “HOA HUỆ”. Bài thơ đã được đăng trên tạp chí Văn Nghệ Cần Thơ số 29 và tuyển chọn trong Thơ Luật Đường Cần Thơ Tập đầu của Chi nhánh UNESCO Thơ Đường Cần Thơ, do NXB Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh cấp giấy phép phát hành năm 2005. Bài thơ vừa nói lên cảm xúc được hòa quyện trong cỏ cây hoa lá, vừa nói lên khát vọng về một cuộc sống thanh bình, thảnh thơi, an hưởng tuổi già. Quí vị hãy tạm quên đi những lo toan đời thường, hướng về đây, để lắng nghe khúc tâm tình của người với hoa.
“Mảnh mai cành huệ trắng tươi xinh
Giữa vạn ngàn hoa, khép nép mình”
Bố cục bài thơ rất chặt chẽ, mẫu mực như một bài thơ Đường cổ. Câu phá đề thật khéo, vừa cho biết tên, vừa gói gọn những nét đặc trưng rất ấn tượng của loài hoa trắng, nhỏ nhắn, xinh tươi. Câu thừa đề tiếp tục cung cấp thêm vẻ khiêm tốn và nét e lệ thầm kín rất nữ tính của hoa thể hiện sự quan sát tinh tế và nghệ thuật ẩn dụ của tác giả. Nếu để ý thật kỹ sẽ thấy chữ “nhành” được sử dụng thay chữ “cành” nghe giàu chất thơ hơn.
“Dìu dịu hương trinh, khuya tỏa ngát
Mịn màng màu tuyết, sớm lung linh”
Có một sự logic hài hòa giữa nội dung và hình thức ở hai vế đối, “dìu dịu hương trinh” diễn tả tính nết dịu dàng, “mịn màng màu tuyết” lại ngợi ca vẻ đẹp thuần khiết, kiêu sa. Đặc biệt cặp từ láy “dìu dịu”><”mịn màng” không những đối rất đắt, rất chỉnh mà việc chọn và sử dụng từ có thể nói là đạt mức tối ưu. Ở đây không thể chọn thay thế được hai cặp từ nào có lý hơn thế. Giá như “phảng phất” được chọn để đối với “lung linh” thay cho “tỏa ngát” thì quả là trác tuyệt. Động từ “tỏa” trở nên quá “lộ liễu” nếu so với nghệ thuật sử dụng động từ ẩn rất cao siêu ở câu sau.
“Hiền hòa, rạng rỡ ngời dương ánh
Thùy mị, đoan trang rạng nguyệt hình”
Cặp câu luận vừa tiếp tục ngợi ca vẻ đẹp nội tâm vửa sử dụng thủ pháp so sánh để nâng lên ý nghĩa mà hoa đã đem đến cho đời. Nếu được đóng góp cho tác giả thì suy nghị mạo muội của tôi là: “Hiền hòa” sử dụng để bổ nghĩa cho “ánh” thì chưa đắt, hơn nữa ở câu sau trong “Thùy mị, đoan trang” tưởng như đã chứa đựng “hiền hòa”, có thể “nguy nga” hoặc “huy hoàng” sẽ hợp lý hơn chăng. “Dương ánh” và “nguyệt hình” nghe khá cổ kính và gượng ép chút đỉnh bởi sử dụng từ Hán Việt và đảo ngữ. Giả sử thay đổi đôi chút nghe như có vẻ khiêm nhường hơn, như bài họa (Dịu dàng, lịch lãm, đoan trang nết/ Duyên dáng, mảnh mai, yểu điệu hình), lại không đạt được bút pháp so sánh.
Ở câu 6 rất khó có thể chọn được cặp tính từ nào đẹp hơn “thùy mị, đoan trang” vì vậy, nếu phải cân nhắc giữa đối cho thật “xuya” và ý cho thật đắt thì thông thường, mọi người vẫn nghiêng về ý hơn. Tôi hoàn toàn tán thành và trân trọng quyết định này của tác giả. “Dương ánh” và “nguyệt hình” đối nghe chan chát, nâng hoa lên ngang tầm vũ trụ, sánh với hai tinh cầu được xem là công trình tuyệt diệu của tạo hóa. Điều đó thể hiện sự lãng mạn đang ở mức cao trào.
“Mong được hồn thơ như huệ nhỉ
Thỏa lòng trao bạn gửi tâm tình”
Hai câu kết như lời thỏ thẻ gửi gắm lòng biết ơn ý nhị chỉ với riêng hoa. Thế mới biết sự khát khao cháy bỏng của đam mê. Huệ bây giờ đã thoát tục, Huệ bây giờ là bạn, Huệ bây giờ đâu chỉ còn là hoa. Hoa hay bóng hình cô gái ẩn trong hoa? Cho phép tôi được khép lại dòng cảm nhận của mình bằng một câu hỏi mà biết chắc rằng khó nhận được lời hồi đáp.
N. X
Bai thơ : Gửi Huế
Từ buổi cung đàn bặt tiếng tơ
Xa rồi một thuở mộng ngày thơ
Đường dài phố nhỏ còn thương cảm
Bến vắng trăng xưa vẫn đợi chờ
Cánh hạc xuyên mây trong gió lạnh
Con thuyền lướt sóng dưới sương mờ
Ai về gởi Huế tình hoài cổ
Huế đó, sao mình tiếc ngẩn ngơ!
Trần Thị Linh Chi
Đọc bài thơ “GỬI HUẾ” của Trần Thị Linh Chi
Trong quá trình “đãi cát tìm vàng” tìm những người đồng điệu để kết nạp vô Chi nhánh Câu lạc bộ UNESCO Thơ Đường Cần Thơ, có lẽ cái duyên may đã đưa chúng tôi đến gặp nữ sĩ Trần Thị Linh Chi khi bất chợt đọc những bài thơ viết rất ngọt theo thể luật Đường trong hai tập thơ “Xứ Huế–Xứ Thương” và “Lung Linh Ngày Tháng” đã được bà trao tặng. Bài thơ “GỬI HUẾ” in trong tập thơ “Chiều Muộn” được nhà xuất bản Văn Nghệ cấp giấy phép ấn hành năm 2006 và được chọn đăng trong tuyển tập “Thơ Luật Đường Cần Thơ”, Tập 2 của Chi nhánh và gần đây nhất vừa được Tạp chí được Sông Hương số 236 giới thiệu.
Theo lời bà tâm sự thì hoàn cảnh sống của bà phải bươn chải từ nhỏ, bà không giống bất cứ văn nghệ sĩ nào có thời gian dành riêng cho văn chương. Trước giờ bà chưa hề nghiên cứu thể thơ này. Tất cả văn thơ bà viết ra là những xúc cảm từ cuộc sống thực tiễn. Có lẽ chất nghệ sĩ được di truyền từ người mẹ, máu văn chương được thừa kế từ người cha và sâu xa hơn là văn hóa Cố Đô đã hun đúc nên tâm hồn bà.
Từ buổi cung đàn bặt tiếng tơ
Xa rồi một thuở mộng ngày thơ
Câu phá đề mở rất khéo, rất tự nhiên, thoạt nghe đã cảm thấy rất da diết. Từ ngữ dùng không những được chắt lọc, mà còn rất đẹp: “Từ thuở cung đàn bặt tiếng tơ”, có vẻ cây đàn đã bị người nghệ sĩ bỏ quên từ lâu, giống như người xa quê nung nấu hoài kỷ niệm mà chưa về được, hay người yêu văn chương phải ngừng viết do “cơm áo gạo tiền”. Câu thừa đề trải ra dự báo cho người đọc nội dung sẽ viết về quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn mà tác giả đã phải rời xa: “Xa rồi” tháng năm thơ ấu! “Xa rồi” quê hương xứ sở! Giá có đôi từ nhắc đến Huế hay bất cứ một danh thắng nào ở đó thì cái mở sẽ thật tròn trịa.
Đường dài phố nhỏ còn thương cảm
Bến vắng trăng xưa vẫn đợi chờ
Không chỉ người đi nhớ đất mà cảnh sắc cũng nhớ người. Thật tuyệt! Con đường, dãy phố, bến nước, vầng trăng đã được nhiều thi nhân khai thác từ cổ chí kim, nhưng ở đây được tác giả lồng ghép tinh tế vào cặp câu thực. Các cặp từ đối (dài/vắng, phố/trăng, nhỏ/xưa) chỉnh về từ loại nhưng không hề khuôn sáo, máy móc theo theo lối đối cân thông thường. Thủ pháp tiểu đối trong mỗi câu đã gặp trong thơ đại thi hào Nguyễn Du (Khuôn trang đầy đặn/Nét ngài nở nang; Hoa cười/ngọc thốt; Người nách thước/kẻ tay dao…) và cụ Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (Cướp của/đánh người; Thân già/da cóc) nay được thấy lại trong “Gửi Huế” (Đường dài/phố nhỏ và Bến vắng/trăng xưa) kết hợp đồng thời với nghệ thuật “nhân cách hóa” thổi hồn vào cảnh vật làm cho ý thơ bật lên thoát tục, đọc mà như thấy nao nao.
Cánh hạc xuyên mây trong gió lạnh
Con thuyền lướt sóng dưới sương mờ
Mới đọc có cảm giác như để 2 câu này làm cặp câu trạng thì sẽ hợp lý hơn? Nhưng không, “cánh hạc”, “con thuyền” nào phải là tức cảnh, nào phải được quan sát bằng thị giác, mà ở đây “cánh chim viễn xứ”, và “con thuyền rong ruổi”, phải “xuyên mây trong gió lạnh/ lướt sóng dưới sương mờ”, chính là hiện thân của người đi xa vừa đang tất tả chèo chống vượt lên những khó khăn, những lo toan đời thường vừa đang đau đáu nhớ quê, nhớ cảnh, nhớ bà con thân thuộc, nhớ bạn bè… Nghệ thuật ẩn dụ đã đạt đến trình độ siêu việt. Chưa nghiên cứu thể thơ Đường mà viết như thế, đối như thế, thật khó tin nếu không từng chứng kiến, từng đối ẩm và hiểu sâu về chính tác giả.
Ai về gởi Huế tình hoài cổ
Huế đó, sao mình tiếc ngẩn ngơ!
Nếu câu kết thứ nhất nhẹ buông văng vẳng xa xôi như lời nhắn tự ngàn xưa thì câu cuối bật lên ngập ngừng, tắc nghẽn! Đó chính là giây phút thăng hoa cảm xúc, là sự trào dâng của sự tiếc nuối? Tiếc cho những di tích cổ xưa không còn nguyên vẹn, tiếc cho mình phải trôi nổi theo dòng đời mà chẳng được gắn bó với quê hương xứ sở thơ mộng, trữ tình, nơi hằn sâu những kỷ niệm “ngày thơ”. Sự đặc sắc của cặp câu này là nghệ thuật điệp từ, “Huế” được nhắc lại 2 lần như vết khắc, khứa sâu vào nỗi nhớ khắc khoải tận đáy lòng người con xa quê.
“GỬI HUẾ” là một trong những bài thơ hay cả về nội dung và nghệ thuật. Thể thơ xưa mà cách thể hiện không xưa, chủ đề xưa mà từ ngữ không xưa. Toàn bài không phải là những trang hồi ký đầy ắp những kỷ niệm, cũng không phải bức tranh mô tả vì tác giả không hề nhắc bất cứ một địa chỉ, một danh lam thắng cảnh nào của Cố Đô hoa lệ nhưng nét đặc sắc không thể lẫn lộn chính ở chỗ khắc họa nỗi lòng. Khuôn khổ của bài viết không cho phép nói nhiều, tôi chỉ muốn chia sẻ sự yêu mến xen lẫn kính phục tác giả. Mong rằng tuổi tác không làm cho nữ thi sĩ xứ mộng mơ mất đi nguồn cảm hứng sáng tác để bạn yêu thơ cả nước sẽ còn tiếp tục được đón nhận những cống hiến của bà trên văn đàn.
Nắng Xuân