Chùm thơ của chí sĩ Phan Châu Trinh
Phan Châu Trinh
Phan Châu Trinh 潘周楨 (còn gọi là Phan Chu Trinh, 9/9/1872 – 24/3/1926) tự Hy Mã 希瑪, hiệu Tây Hồ 西湖, sinh tại làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Tây Hồ, xã Tam Lộc, thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam). Cha ông là Phan Văn Bình giữ một chức võ quan nhỏ, sau năm 1885 theo phong trào Cần Vương trong tỉnh, làm chuyển vận sứ phụ trách việc quân lương. Sau khi kinh thành Huế thất thủ (1885), ông theo cha, tập luyện võ nghệ, bắn cung, cưỡi ngựa.
Năm cha mất, ông mới 16 tuổi, gia đình phải dựa vào sự lo liệu của người anh cả. Năm 1892, ông đi học, bạn cùng học là Huỳnh Thúc Kháng kém ông 4 tuổi. Ông nổi tiếng học giỏi. Năm 1900, Phan Châu Trinh đỗ cử nhân; năm sau (1901), ông đỗ phó bảng. Năm 1902, ông vào học trường Hậu bổ, rồi ra làm quan với chức quan Thừa biện bộ…
Sau đây là chúm thơ của Ông :
Bắc du cảm thành
今秋河北昨柴棍,
遍訪天然古國魂。
樹姿蒼蒼波自力,
江山無語致東奔。
Bắc du cảm thành
Kim thu Hà Bắc tạc Sài Côn,
Biến phỏng thiên nhiên cổ quốc hồn.
Thụ tư thương thương ba tự lực,
Giang sơn vô ngữ trí đông bôn.
Dịch thơ
Còn chăng hồn nước ban sơ?
Thu nay Hà Bắc, năm xưa Sài Gòn.
Sóng xô, cây vẫn xanh rờn,
Giang sơn chẳng nói, đổ dồn về đông.
P/S :Hoàn Vương tôn miếu chốn đây. Dấu xưa tục cũ ,đến nay lưu truyền. Trăm năm thế sự muộn phiền. Cõi lòng canh cánh, dạ liền tâm can. Tấc vàng chẳng đổi giang san. Gió mưa vùi dập, kiếm vàng nay đâu !. Lên…
Hoàn Vương miếu
尚有桓王廟,
流風傳至今。
悠悠百年事,
更更千里心。
風雨扶孤劍,
山河憐寸金。
登高一欲暮,
回首沾衣襟。
Hoàn Vương miếu
Thượng hữu Hoàn Vương miếu,
Lưu phong truyền chí kim.
Du du bách niên sự,
Cánh cánh thiên lý tâm.
Phong vũ phù cô kiếm,
Sơn hà liên thốn kim.
Đăng cao nhất dục mộ,
Hồi thủ triêm y khâm.
P/S: “Chiêm Thành quốc vương thông hiệu Hoàn Vương; Bình Định dĩ Nam đa Hoàn Vương cổ miếu” 占城國王通號桓王;平定以南多桓王故廟 (Vua nước Chiêm Thành còn gọi là Hoàn Vương; từ Bình Định trở vào Nam có nhiều miếu cổ của các Hoàn Vương đời trước).
Dịch thơ
Hoàn Vương miếu
Còn đó Hoàn Vương miếu,
Tục truyền đến hôm nay,
Trăm năm bao chuyện cũ,
Muôn dặm dạ vương đầy.
Bảo kiếm vùi mưa gió,
Tấc vàng tiếc núi mây.
Lên cao trời sắp tối,
Ngoảnh lại cảm thương thay\
Ngô Trần Trung Nghĩa
Hoàn Vương miếu
Chốn này là miếu Hoàn Vương,
Dấu xưa còn mãi lưu truyền đến nay.
Trăm năm bao sự đổi thay,
Việc xưa nghĩ lại lòng ai ngậm ngùi.
Kiếm linh gió dập mưa vùi,
Tấc vàng đã mất đâu rồi non sông!
Lên cao trời tối ngóng trông,
Quay đầu nhìn lại lệ dầm ướt khăn
Vào ngục ( Santé bài 1)
Ba năm trải thú khắp Paris,
Lao ngục chưa hề biết tí ti.
Sự thiếu vì đâu bày buộc tới?
Thân thừa còn dám oán hờn chi!
Một ngày dùng bữa hai lần súp,
Ba đứa chia nhau một ổ mì.
Tám kiếp trâu già chi sợ ách,
Ngồi buồn lắc vế cứ ngâm thi.
Đá trông chồng (VỌNG PHU)
Sự tám mươi đời có biết không?
Người chăng? hay đá? vợ chăng? chồng?
Đi đâu nên nỗi quên tin tức?
Đứng đó bao giờ luống đợi trông?
Tu vậy hay sao đầu trụi lụi?
Khóc chi lắm hử mặt phông phông?
Trời cao bể rộng người còn mất?
Biết nặng hòn non, nhẹ cái lông?
Giai thoiaj văn học












Ghé thăm hôm nay : 182
Tháng này : 44845
Năm này : 110726
Tổng lượt truy cập : 110726
Số người đang online : 2