Chùm thơ của Cụ Huỳnh Thúc Kháng

 

Huỳnh Thúc Kháng 黃叔沆 

Huỳnh Thúc Kháng 黃叔沆 (1/10/1875 – 21/4/1947) tự Giới Sanh, hiệu Mính Viên 茗園, quê làng Thạnh Bình, huyện Tiên Phước, Quảng Nam – Đà Nẵng, đậu tiến sĩ, không làm quan, là một trong những người cầm đầu phong trào Duy tân tự cường đầu thế kỷ ở Trung Kỳ. Năm 1908, bị thức dân Pháp bắt, kết án “trảm giam hậu” (giam chờ chém) sau chuyển thành chung thân và “bất đắc ân xá” đày đi Côn Đảo. Đến 1921 thì được tha về, làm Nghị trượng Viện dân biểu Trung Kỳ một thời gian ngắn rồi cáo từ để làm báo Tiếng dân với cương vị chủ bút. Báo Tiếng dân là một tờ báo yêu nước tiến bộ, có uy tín lớn trong nhân dân. Sau Cách mạng Tháng tám, theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Huỳnh Thúc Kháng làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, có lúc quyền Chủ tịch nước.Sau đây là chùm thơ của Cụ  ;

  








 

Cm tác

Vô quốc hà năng bội?
Ngu dân khởi hữu quyền.
Hiệp thương thành hoạ sủng (sùng),
Giảng học bị châu liên.
Bàn quận danh sơn phú,
Cam Ranh ngoại quốc thuyền.
Viên thư như phát bố,
Đương tác tiểu biên niên.

 Dch nghĩa

Nước mất, sao có thể ngoảnh mặt được?
Dân ngu muội thì làm gì có quyền.
Hiệp thương biến thành tai hoạ,
Dạy học thì bị kết tội.
Ở Bình Định cùng làm bài phú “Danh sơn lương ngọc”,
Ngoài cảng Cam Ranh, thuyền ra nước ngoài đang chờ.
Thư tuyên án đã được gửi đi,
Làm bài thơ này như là một ghi chép nhỏ về việc này.

Bn dch

Không nước sao rằng bội?
Dân ngu há có quyền!
Hiệp thương gây mối hoạ,
Giảng học cũng can liên.
Bình Định cùng làm phú,
Cam Ranh muốn vượt thuyền.
Án văn như phát bố,
Chuyện tớ có đời truyền.

                   Huỳnh Thúc Kháng

Côn Đo thư hoà

  








竿

 Côn Đo thư hoài

Thanh sơn tam diện chẩm bình trù,
Nhất đới Lô hà nhập hải lưu.
Chư phụ chư huynh cư tụ địa,
Mỗ khâu mỗ thụ thiếu niên du.
Nhất chi tự tín liêu sào ổn,
Vạn lý na kham hạc mộng sầu.
Đa thiểu khứ thì tân thực quế,
Khả vô thuý cán ngạo hàn thu.

Bn dch

Đồng phẳng vây quanh ba mặt đồi,
Sông Lô một dải chảy ra khơi.
Đây cha, đây chú, ngày xưa họp,
Này núi, này cây, thuở bé chơi.
Tưởng đó một cành chim làm tổ!
Ngờ đâu muôn dặm hạc xa vời…!
Ít nhiều cội quế trồng khi trước
Được mấy nhành thu ngạo nghễ tươi?

                                    Đông Xuyên

Quanh khoá bu c dân biu

THẦY TÔNG, QUAN BANG ỨNG CỬ

Khoá cử nghị viên đã đến nơi,
Phường tân phường cựu nhộn đua bơi,
Tổng làng danh giá thua dân biểu,
Mình quyết ra tranh một ghế chơi.

Bán mẹ ngay đi mấy mẩu vườn,
Dăm sào ruộng họ cũng cầm luôn.
Vứt tiền mua quách vài trăm phiếu,
Đắc cử rồi ta diễn đủ tuồng.

Nầy nầy mẹ đĩ chớ phàn nàn,
Dân biểu ngày nay chả khác “quan”.
Rồi đây mình được lên bà nghị,
Tàng tổng trông vào lắm vẻ vang.

BÁC THẦU ỨNG CỬ

Lãnh biện lâu nay vẫn có xu,
Chỉ hiềm mang tiếng một anh “thầu”.
Chi bằng vận động làm “quan nghị”,
Vào tỉnh ra toà có lắm câu.

Thường trực ban kia bổng khá nhiều,
Hội đồng chính phủ cấp càng dào,
Dẫu không vẫn giữ chân “quan nghị”,
Tiền cấp tiền xe cũng chán tiêu.

Mùi nếm đã quen khó vứt ra,
“Méc-xì”, “biếng” “uỷ” khó gì mà.
“Đít-cua”, “la-phết” rành tay thạo,
Há nhượng cho ai cái ghết ta!

Tháng chạp mười lăm đóng sổ rồi,
Thiếu niên mấy chú hết chơi vơi!
Nghị trường ghế đã mòn đâu đó,
Mang tiếng “bình hoa” moả cứ ngồi.

VĂN SĨ ỨNG CỬ

Sức học thua ai vẫn có bằng,
Kiếm không ra việc chạy lăng nhăng.
Bán văn mấy lúc nghề ra ế,
Dân biểu tranh xem có khá chăng!

“Bình dân”, “lao động” sẵn phong trào,
Một món văn Tây dễ bán rao.
Thừa dịp nghị trường tranh một ghế,
Thiếu niên thanh giá lại càng cao!

Lớp cựu ngày nay đã hết thời.
Cột rường xã hội phải trò chơi.
Cử tri còn đợi gì gì nữa?
Nào có ai hơn phái học Tây!
                           Theo Vanhoc..vn