SANTÉ THI TẬP – THƠ ĐƯỜNG LUẬT BÌNH DÂN GẮN VỚI TƯ TƯỞNG CHẤN DÂN KHÍ CỦA CỦA PHAN CHÂU TRINH TS. Lê Đắc Tường-
SANTÉ THI TẬP – THƠ ĐƯỜNG LUẬT BÌNH DÂN GẮN VỚI TƯ TƯỞNG CHẤN DÂN KHÍ CỦA CỦA PHAN CHÂU TRINH
- Lê Đắc Tường-
Trường THCS và THPT Liên Việt Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi
Tóm tắt
Những năm đầu của thế kỷ XX, ở Việt Nam, hình thành một trào lưu canh tân xã hội có sức lan tỏa rộng lớn. Đó là phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh khởi xướng với chủ trương: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Ngoài tài diễn thuyết và tích cực hoạt động cách mạng nhằm đưa dân tộc ta thoát khỏi xiềng xích nô lệ, Phan Châu Trinh còn là một nhà báo, nhà thơ lớn. Thơ của Phan Châu Trinh tuy vẫn chưa đi ra khỏi quỹ đạo của văn học trung đại, nhưng tư tưởng thơ của ông mang tầm thời đại và có đóng góp lớn cho nền văn học dân tộc. Santé thi tập – tập thơ mà Phan Châu Trinh sáng tác trong thời gian bị giam cầm ở Pháp – được làm theo lối thơ Đường luật nhưng mang tính bình dân và thể hiện rõ tư tưởng yêu nước nồng nàn của chí sĩ cách mạng. Bài viết bước đầu tìm hiểu một số nét đặc sắc nghệ thuật và tư tưởng chấn dân khí trong tập thơ Đường luật bình dân này.
Từ khóa: Santé thi tập, Chấn dân khí
- Đặt vấn đề
Là tập thơ Đường luật, Santé thi tập với 219 bài thơ được Phan Châu Trinh viết trong thời gian 10 tháng từ tháng 9 năm 1914 đến tháng 7 năm 1915, khi ông bị giam ở nhà ngục Santé của Pháp. Santé thi tập hiện còn 2 di cảo do tác giả viết dưới dạng chữ quốc ngữ. Ở cuối những bài thơ, Phan Châu Trinh còn chú thích các từ, các câu khó hiểu bằng cách dẫn tục ngữ, ca dao hay điển tích, sách Tàu. Những bài thơ được trích dẫn dưới đây đều được trích từ Tây Hồ và Santé thi tập do Lê Ấm sao lục (In tại nhà in Lê Thị Đàm 37/40, Phát Diệm, Sài Gòn. Giấy phép số 1493/XB ngày 17/7/1961 của H.Đ.K.Đ. Sg). Điều đặc biệt và duy nhất đó là: Santé thi tập, mặc dù viết theo thể thơ Đường luật, nhưng đậm chất bình dân và phần lớn các tên bài thơ đều là những câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao. Nội dung Santé thi tập rất phong phú: Tâm trạng người ở tù, tinh thần yêu nước, đề cao truyền thống dân tộc, đạo lý, phê phán thói hư tật xấu trong cuộc sống, phê phán quan lại hà hiếp dân…vv. Tập thơ biểu hiện tư tưởng khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh của Phan Châu Trinh, đặc biệt là tư tưởng chấn dân khí.
Tư tưởng của Phan Châu Trinh đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu như: Đỗ Thị Hòa Hới, (1994), Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh (Luận án phó tiến sĩ, Viện Triết học), Trần Mai Ước, (2017), Tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh, (Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội)…vv. Đặc biệt năm 2022, Nhà xuất bản Đà Nẵng đã xuất bản công trình Tư tưởng canh tân của Nhà yêu nước Phan Châu Trinh. Đây là Kỷ yếu hội thảo với 50 bài tham luận tập trung vào 3 nội dung: Con đường hình thành và bối cảnh lịch sử tác động đến việc hình thành tư tưởng của Nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Tư tưởng canh tân của Nhà yêu nước Phan Châu Trinh; Phát huy giá trị tư tưởng canh tân của Nhà yêu nước Phan Châu Trinh trong giai đoạn hiện nay. Đến nay, tư tưởng của Phan Châu Trinh được nghiên cứu khá phong phú và trên nhiều phương diện. Vấn đề nghiên cứu văn chương của Phan Châu Trinh cũng rất được các nhà nghiên cứu quan tâm. Đến này đã có Phan Châu Trinh toàn tập (2006, Nxb Đà Đà Nẵng), Phan Châu Trinh tuyển tập (2010, Nxb Văn hóa- Thông tin) và Phan Châu Trinh – tác phẩm chọn lọc (2009 Nxb Giáo dục Việt Nam). Ngoài ra còn có một số bài nghiên cứu tác phẩm của Phan Châu Trinh về nội dung tư tưởng và về một số thủ pháp nghệ thuật như: Nguyễn Huệ Chi, Giai nhân kỳ ngộ diễn ca, một thể nghiệm mới của Phan Châu Trinh về truyện thơ lục bát, (Tạp chí Nghiên cứu và phát triển số 3-4 năm 2014); Châu Yến Loan, Phan Châu Trinh, nhà giáo dục qua Santé thi tập (Báo Thanh niên số ra ngày 17/11/2005); Phạm Tuấn Vũ, Điển cố với thể hiện cảm hứng yêu nước trong thơ Phan Châu Trinh (Báo GD&TĐ số ra ngày 22/5/2023)…vv. Sự nghiệp văn chương của Phan Châu Trinh mang giá trị thời đại, vẫn luôn là mảnh đất màu mỡ vẫy gọi các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, thơ văn của Phan Châu Trinh vẫn chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu và riêng Santé thi tập vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu bởi sự đặc sắc và giá trị to lớn mà tập thơ mang lại.
- Sante thi tập – thơ Đường luật bình dân
Về văn chương của Phan Châu Trinh, các nhà nghiên cứu đều cho rằng văn chương của ông vẫn chưa thoát khỏi quán tính của văn học trung đại. Ông cũng như các nhà nho khác ông cũng như muốn dùng “Văn dĩ tải đạo”, “ Thi dĩ ngôn chí” để tuyên truyền, giáo hóa và để “khai dân trí, chấn hưng dân khí, hậu dân sinh”. Thơ của Phan Châu Trinh chủ yếu vẫn là thơ Đường luật với hai loại ngôn ngữ là Hán và quốc ngữ. Trong hoàn cảnh đất nước đang bị nô lệ, trình độ dân trí còn thấp, ông lại là nhà canh tân nổi tiếng. Phải chăng, vì thế khi sáng tác Santé thi tập, Phan Châu Trinh đã chọn chữ quốc ngữ, chọn thơ Đường luật kết hợp với sự vận dụng tối đa lời ăn tiếng nói thường ngày, tạo nên tập thơ Đường luật bình dân có một không hai của Việt Nam.
Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, Nho học tuy đã thoái trào nhưng vẫn còn ảnh hưởng khá nặng nề trong trong xã hội. Thơ Đường luật vẫn đang ăn sâu vào gốc rễ, thơ hiện đại thì đang manh nha, chưa có nhiều thành tựu. Việc Phan Châu Trinh chọn thơ Đường luật và hầu như dựa hẳn vào bầu sữa văn học dân gian Việt Nam cho thấy sự trăn trở, tinh thần nhiệt huyết và mong muốn dùng văn chương để giáo hóa, để thể hiện tư tưởng của mình nhằm cứu đất nước ra khỏi cảnh nô lệ, lầm than.
Sở dĩ gọi Santé thi tập là tập thơ Đường luật bình dân bởi mấy lẽ sau:
Thứ nhất, ngôn ngữ thơ mang đẫm chất dân dã, bình dị, vài từ còn mang dấu ấn địa phương Quảng Nam. Những câu thơ sau đây là điển hình cho lối ngôn ngữ dân dã bàng bạc trong các bài thơ của tập thơ:
Bán vườn rồi giếng để thêm thừa,
Sẵn dịp còn ta ỉa cũng vừa.
… Sạch dơ trối mặc thây nhà mới
Trong đục cần chi bến nước xưa. (Vừa sắp bán vườn đã ải xuống giếng)
Ngôn ngữ thơ bình dị còn thể hiện ở việc khá ít điển tích, điển cố. Theo thống kê, trong tập thơ có vài câu tục ngữ, phương ngôn chữ Hán như: Quân tử nhất ngôn, Tích cốc phòng cơ, Phước bất trùng lai, hoạ vô đơn chí, …vv và vài điển tích, câu thơ, sách Tàu. Nhưng những điều này chỉ để đặt làm nhan đề và chủ yếu vẫn là để giải nghĩa và làm rõ hơn ý thơ mà Phan Châu Trinh chú giải ở phần cuối bài thơ.
Thứ hai, cũng là điều đặc biệt và nổi bật hơn cả trong Santé thi tập là Phan Châu Trinh đã dùng thơ thất ngôn bát cú Đường luật chú giải hay vịnh những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ của Việt Nam.
Về ca dao, Phan Châu Trinh dùng ca dao để đặt tên cho nhan đề bài thơ và dùng thơ Đường luật để vịnh, chú giải cho nhưng câu ca dao đó. Theo thống kê, trong San té thi tập có đến 30 bài thơ như vậy. Chẳng hạn như Phan Châu Trinh lấy câu ca dao: “Không tham bồ lúa anh đầy, tham ba hàng chữ làm thầy thế gian” làm tên của bài thơ và vịnh câu ca dao này bằng thơ Đường luật:
… Oai quyền hột thóc to bao tí,
Danh giá câu văn quý mấy vàng.
Hay câu ca dao “Dã tràng xe cát bể đông, Nhọc mình mà chẳng nên công cán gì” làm nhan đề bài thơ để vịnh:
Nhọc mình chi lắm dã tràng ôi,
Xe cát xưa nay chẳng mấy rồi.
Cũng có những bài thơ, Phan Châu Trinh lấy câu ca dao đặt tên cho hai bài thơ như “Cây cao thì phải gió lay”: Lạ gì thói gió xưa nay, Hể thấy cây cao chỉ muốn day. Và “Người cao thì phải đắng cay trăm chiều”: Trong thế bao nhiêu nỗi đắng cay, Người cao phải chịu vốn xưa nay.
Cá biệt có bài ông dùng cả bài ca dao để đặt tên cho bài thơ: “Chầu rày sanh đẻ đã rồi, Bồng con ra ngồi coi thử giống ai. Cái đầu thì giống ông cai, Cái lưng ông lý cái vai ông trùm”:
Mãn cữ xem con thử giống ai,
Vai trùm, lưng lý, thiệt đầu cai…
Về thành ngữ, tục ngữ, San té thi tập, có hơn một nửa, cụ thể là 120 bài, Phan Châu Trinh dùng thành ngữ, tục ngữ làm nhan đề và vịnh bằng thơ Đường luật. Những câu tục ngữ, thành ngữ có thể chia thành hai loại. Một loại cổ xúy về cách sống tốt đẹp, tình nghĩa, thuỷ chung: Ăn trái nhớ kẻ trồng cây, Đói cho sạch, rách cho thơm, Ăn cây nào rào cây ấy, Uống nước chừa cặn, Quân tử nhứt ngôn, Còn chồi lên cây…vv. Loại khác thì đả kích, phê phán thói hư tật xấu: Ăn cháo đái bát Giậu ngã bìm leo, Trâu cột ghét trâu ăn, Đục nước béo cò, Rung cây nhát khỉ, Luồn gió bẻ măng, Ma cũ ăn hiếp ma mới …v.v.
Cả ca dao, tục ngữ, thành ngữ tất cả hơn 400 câu, Phan Châu Trinh vừa làm nhan đề vừa chú thích, bình giải, chứng minh một điều: Ông đã sống rất gần gũi với nhân dân, học hỏi ở trong dân và rồi đem hết nhiệt tình, kiến thức uyên bác và trí nhớ siêu việt của mình để phục vụ nhân dân.
Thứ ba, cũng có lẽ vì đa số các bài thơ đều có liên quan đến ca dao, tục ngữ về thế thái nhân tình, lại được làm trong tù nên Santé thi tập rất ít bài nói về thiên nhiên – một đặc trưng của thơ Đường luật. Tập thơ hầu như vắng bóng phương thức “tả cảnh ngụ tình”, có một bài tả ánh trăng, nhưng chỉ là để vịnh câu ca dao: “Trăng lu vì bởi chòm mây, Người trung mắc nạn vì tay gian tà”:
Mấy thuở trăng lu đến nỗi này,
Xúm chòm khuấy khóa trách vì mây.
… Xưa nay trung nghĩa vương tai nạn,
Cũng bởi gian tà khuất lấp đây. (Trăng lu vì bởi chòm mây)
Về thể thơ, cả 219 bài thơ trong Santé thi tập đều được Phan Châu Trinh làm theo lối thơ thất ngôn bát cú với bố cục, niêm, luật, đối, vần và nhịp chặt chẽ. Bài Đạo con là một điển hình:
Kể chi cho xiết đạo làm con,
Báo bổ xin chăm lúc sống còn.
Hùm dữ nỡ nào ăn thịt trẻ,
Quạ lành còn biết sún mồi ngon.
Giàu mâm cá thịt còn vang vẻ,
Khó miếng rau canh cũng vẹn tròn.
Cá giá, nằm đông, ai ép uổng,
Thảo chăng thèm chút tý lòng son.
Về đối, trong cả tập thơ Phan Châu Trinh dùng tất cả cách đối của thơ thất ngôn bát cú như đối ý, đối thanh, đối từ vựng…vv:
Ấy bởi khá mồm khôn tránh trút,
Hay vì dài mỏ vụng đôi co. (Quạ ăn dưa bắt cò phơi nắng)
Về luật bằng trắc, tập thơ có 88 bài theo luật trắc còn lại 131 bài là luật bằng:
Phận gái xưa nay vẫn thiệt thòi,
Lênh đênh bến nước đủ mười hai…. (Con gái bến nước mười hai)
Trơ trơ mắt cú dại chưa cà,
Kêu chẳng được ăn chỉ sướng ma…. (Cú kêu ma ăn)
Về nhịp, đa phần các bài thơ trong tập thơ theo thông lệ nhịp 2/2/3 hoặc 4/3, nhưng cũng có những bài cách ngắt nhịp có khác:
Truyền đem giam lại khám Đề-Pô,
Xám, trắng, vàng, đen lẫn một bồ
Quân cướp! Quân hoang! Rằng: bậy bạ,
Đứa ôm, đứa đánh, luống hồ đồ….(Vào khám Đề-Pô)
Xét tổng thể, Santé thi tập vẫn tuân thủ niêm luật của thơ thất ngôn bát cú nhưng đã được Phan Châu Trinh dân gian hóa trên các phương diện: ngôn ngữ, đề tài, chủ đề, ngữ liệu. Đây chính là nét đặc sắc và tạo nên giá trị của tập thơ. Trong tiến trình thơ Đường luật của Việt Nam từ cổ chí kim, có lẽ đây là tập thơ duy nhất theo phong cách này. Điều đáng nói và đáng trân trọng là sự bình dân của tập thơ không làm cho nó trở nên tầm thường mà ngược lại trở thành điểm nhấn, sự mới lạ với những giá trị về nội dung và nghệ thuật. Tập thơ là cầu nối giữa quá khứ và hiện thời bởi không chỉ là sự đặc sắc riêng có của thơ Đường luật Việt Nam mà còn nằm ở giá trị tư tưởng mang tầm thời đại mới.
3. Tư tưởng chấn dân khí của Phan Chu Trinh trong Santé thi tập
Sau những năm tích cực hoạt động ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, năm 1911, Phan Châu Trinh sang Pháp và sau đó bị bắt giam vào tháng 9 năm 1914, đến tháng 7 năm 1915 thì được ra tù. Trong thời gian bị giam cầm ở nhà tù Santé, Phan Châu Trinh đã cho ra đời Santé thi tập. Santé thi tập viết bằng chữ quốc ngữ với nội dung phong phú, thể hiện tư tưởng, tình cảm, lòng yêu nước của người chí sĩ cách mạng.
Trước hết, tập thơ khắc họa một chí sĩ Phan Châu Trinh ở trong tù đày với tinh thần bất khuất, nặng lòng với nước non.
Trong cảnh lao tù hỗn tạp, mặc dù bị tra tấn, bị đối xử tàn bạo:
Truyền đem giam lại khám Đề-pô,
Xám, trắng, vàng, đen lẫn một bồ.
Quân cướp! quân hoang! rằng: bậy bạ,
Đứa ôm, đứa đánh, luống hồ đồ. (Vào khám Đề – Pô)
Dù sống trong cảnh đói rách, thiếu thốn:
Một ngày dùng bữa hai lần xúp,
Ba đứa chia nhau một ổ mì. (Vào ngục Santé bài 1)
Nhưng người thanh niên họ Phan không bị khuất phục, bi quan mà lên tiếng tố cáo đanh thép chế độ nhà tù thực dân:
Pháp luật văn minh đâu mất cả?
Chỉ thừa sách vở, luống trâu bò ! (Vào khám Đề – Pô)
Ở trong lao tù với bao bất công cực khổ, nhưng Phan Châu Trinh rất lạc quan, với phong thái ung dung của người thi sĩ: Ngồi buồn lắc vế cứ ngâm thi! (Vào ngục Santé bài 1); một chút tếu táo bình dị của con người:
Từ ấy giam luôn mấy tháng tròn,
Nhờ trời ngủ kỹ lại ăn ngon.
Ngày ba lần xực coi còn đói,
Đêm chín giờ ngơi ngáy vẫn giòn. (Vào ngục Santé bài 2).
Hay một thần tiên trong cõi trần gian:
Thong thả co tay ngồi tính thử,
Thần tiên chưa dễ sánh ta đâu? (Nhất nhật tại tù,
thiên thu tại ngoại).
Tinh thần lạc quan còn thể hiện ở điều khá thú vị, trong 219 bài thơ làm ở trong tù, chỉ có 4 bài nhắc đến tù đày, phải chăng đối với Phan Châu Trinh thì “thân thể ở trong lao, tinh thần ở ngoài lao”. Tinh thần ấy luôn đau đáu về quê hương, về vận mệnh của đất nước đang bị xiềng xích, nô lệ.
Chính vì vậy, người thanh niên ấy luôn hướng về tổ quốc với trách nhiệm cao cả và tấm lòng yêu nước sắc son:
Vui buồn mình biết lòng mình vậy,
Miễn trả cho rồi nợ nước non. (Vào ngục Santé bài 2)
Phan Châu Trinh là người khởi xướng phong trào Duy Tân với quyết tâm cứu đất nước khỏi ách nô lệ, lầm than với phương châm bất bạo động (minh thị). Để cứu nước thì phải canh tân, phải có dân chủ, dân quyền. Để canh tân đất nước, Phan Châu Trinh đề xuất ba vấn đề lớn: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Điều này ông đã nói rất tường minh trong các bài diễn thuyết và qua thơ văn. Riêng nội dung chấn dân khí được Phan Châu Trinh thể hiện khá nhiều Santé thi tập.
Để chấn hưng dân khí, theo Phan Châu Trinh trước hết phải thức tỉnh tinh thần tự tôn, tự cường dân tộc, hướng về nguồn cội, chấn hưng truyền thống hào hùng của dân tộc, nơi chứa đựng sức mạnh thiêng liêng:
Dẫu ai ngang dọc cả bầu trời,
Đất tổ quê cha cũng có nơi.
Tấc cỏ ngọn rau từng lắm thuở,
Chôn nhau cắt rốn biết bao đời.
Trăm năm sống thác nhờ che chở,
Muôn kiếp cao sanh khó đổi dời. (Quê cha đất tổ)
Cội nguồn là chân khí phải tự hào, cần được bảo vệ:
Nợ nước ơn non chưa dễ trả,
Phụ phàng sao nỡ ớ ai ơi! (Quê cha đất tổ)
Nợ nước, ơn non phải khắc ghi mới chấn hưng được dân khí trong hoàn cảnh đất nước đang bị xiềng xích nô lệ:
Trăm năm che chở ơn trời bể,
Muôn kiếp xoay vần nợ nước non. (Trẻ cậy cha, già cậy con)
Ông kêu gọi phải bảo vệ nguồn cội, không nên từ bỏ quá khứ tốt đẹp, hào hùng:
Nước giếng nguồn trời còn biết nhớ
Nỡ nào ăn táo chạy rào thung (Ăn trái nhớ kẻ trồng cây)
Xưa này ngọt lạt vin cành ấy,
Hôm sớm chăm nom giữ cội này. (Ăn cây nào rào cây ấy)
Điều đó đồng nghĩa với việc phải gìn giữ truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Chỉ có vậy mới chấn hưng được dân khí. Truyền thống đó là sự đoàn kết, sức mạnh, đạo lý và nghĩa tình thủy chung.
Trong khi đất nước đang lâm vào cảnh nô lệ lầm than, thì đoàn kết – một truyền thống quan trọng và tốt đẹp của dân tộc Việt Nam – sẽ là chìa khóa giúp chấn hưng dân khí, đưa đất nước thoát khỏi xiềng xích nô lệ. Phan Châu Trinh lấy hình ảnh rất quen thuộc, đó là tiếng vỗ tay để nói về sức mạnh đoàn kết dân tộc:
Xưa nay góp gió làm nên bão,
Muôn vạn xin ghi một chữ đồng. (Đông tay nên vỗ bộp)
Không những thế, ông rất xem trọng sự đoàn kết trong từng tế bào xã hội, tức là gia đình. Trong Santé thi tập, ông có khá nhiều bài thơ viết về mối quan hệ gia đình như cha con, anh em, vợ chồng, bạn bè…vv, với mong muốn những người trong gia đình giữ đúng đạo lý nhằm tạo nên sức mạnh đoàn kết trong gia đình, từ đó mới có sức mạnh đoàn kết dân tộc.
Phan Châu Trinh giành rất nhiều tâm huyết cho việc chấn hưng dân khí trên phương diện đạo lý của con người. 30 bài thơ trong Santé thi tập là những bài thơ nói về đạo lý, giữ gìn đạo lý, khuyên răn, giáo dục mọi thành viên trong gia đình sống cho đúng với đạo lý của gia đình, của dân tộc. Đó là Đạo vua tôi (Đạo vua, Đạo tôi), đạo cha con (Đạo cha, Đạo mẹ, Đạo con), đạo vợ chồng (Đạo chồng, Đạo vợ), đạo anh em (Đạo anh, Đạo em), đạo bằng hữu (Đạo bạn bầu). Qua những bài thơ này, Phan Châu Trinh hướng con người đến việc gìn giữ đạo lý trong gia đình, xã hội và cũng chính là cỗ vũ tinh thần đoàn kết, chấn hưng dân khí trong thời loạn lạc. Bên cạnh đó, trong Santé thi tập, Phan Châu Trinh còn giành nhiều bài thơ luận về mối quan hệ ngũ luân như: Luận vua tôi, Luận cha con, Luận anh em, Luận vợ chồng, Luận bầu bạn. Trong những bài thơ này, một mặt Phan Châu Trinh khuyên bảo con người cần phải giữ gìn luân thường đạo lý, mặt khác ông lo lắng về sự xuống cấp nghiêm trọng của luân thường đạo lý: vua tôi, cha con, anh em, vợ chồng, bầu bạn:
Cao thấp vì ai phân quá bậc?
Lạt như nước lã, đục như vôi! (Luận vua tôi)
Vì đạo vợ chồng đang lỗi nhịp,
Làm cho luận ấy cũng xiêu mành. (Luận anh em)
Giữ được luân thường đạo lý là gìn giữ được dân khí, muốn chấn hưng dân khí thì phải nhận thức được sự xuống cấp của đạo lý, từ đó khôi phục nhân tâm:
Đan đát vì ai, thêm quá lệ,
Làm cho mất cả tấm lòng son. (Luận cha con)
Muốn chấn hưng dân khí, theo cụ Phan cần có sức mạnh và sống nghĩa tình. Ông luận về mạnh và yếu, chỉ có sức mạnh mới chấn hưng được dân khí. Tự lực, tự cường sẽ tạo nên sức mạnh khiến quỷ thần phải kiêng dè và ngược lại:
Mạnh bống dân gian vẫn một phồn,
Xưa nay sống chết bởi hai môn.
Dang tay bậm miệng thần kiêng vía,
Cúi trốc gài tai quỷ hớp hồn. (Mạnh sống bống chết)
Có sức mạnh mới mong thoát khỏi xiềng xích, áp bức và nếu không thì đành cam chịu phận nô lệ:
Người sang thêm rực oai vua chúa,
Mình yếu nên cam phận tớ đày. (Voi ngựa về tàu, cứt dái về đây)
Để dân khí được chấn hưng, mỗi người dân phải ý thức được vị trí và trách nhiệm của mình trong gia đình và xã hội. Phan Châu Trinh đã giành nhiều tâm huyết cho vấn đề này qua hàng loạt bài thơ về quan hệ gia đình như: Cha con, anh em, vợ chồng, mẹ chồng nàng dâu…vv. Những bài thơ này không chỉ nói về đạo lý và việc giữ đạo trong mối quan hệ gia đình mà còn là ý thức về vị trí, trách nhiệm của từng người trong gia đình:
Thế gian khó nhất đạo làm cha,
Trước phải lo sao sạch thói nhà.
Khuôn rập để in từ thuở bé,
Méo tròn làm mẫu bởi mình ta. (Đạo cha)
Ngoài ý thức về vị trí, trách nhiệm của các thành viên trong gia đình, Phan Châu Trinh còn đề cao ý thức vị trí, trách nhiệm trong quan hệ xã hội với nhiều bài thơ viết về quan hệ vua tôi, bầu bạn. Về vua, ông đã đưa ra một quan niệm tiến bộ về vị trí, trách nhiệm của vua. Vua không phải là vị chúa tể có toàn quyền quyết định vận mệnh của dân tộc mà vua chỉ là người đại diện cho một quốc gia, không được coi đất nước là của riêng:
Nước vốn ông cha chung khoảnh đất,
Vua là chủ tich của đương thời.
Chùa làng chưa dễ sư quơ sạch,
Ruộng tổ nên nhường trưởng kỵ thôi.
Hiểu đặng nghĩa đen hai chữ ấy,
Trăm năm còn tỏ nghĩa vua tôi. (Nước, vua)
Vua không phải là người ngồi cai quản để hưởng thụ. Vua phải là người có tài, đức có trách nhiệm gánh vác vận mệnh quốc gia:
Xưa nay khó nhứt đạo làm vua,
Tài đức gồm hai thế mới vừa. (Đạo vua)
Trong quan hệ vua tôi, tôi thì phải có trách nhiệm với nước, phải thanh liêm và sẵn sàng hy sinh vì nước:
Xưa nay khó nữa đạo làm tôi,
Yêu nước thương vua vẹn cả đôi.
Trắng trẻo gìn lòng trong tợ tuyết,
Phanh phui bỏ thói bạc như vôi.
Đảnh chung thỏa mặt mang ơn nước,
Tro bụi liều thân trả nợ đời. (Đạo tôi)
Trong quan hệ bằng hữu, bạn bè phải có ý thức và kính trọng nhau:
Năm luân đứng dưới bạn cùng bầu,
Tôn kính hai đàng chữa dễ đâu. (Luận bạn bầu)
Và có trách nhiệm tin tưởng, thủy chung với nhau:
Đá vàng trước đã thử trăm vòng,
Một tiếng thề nhau phải giữ trong. (Đạo bạn bầu)
Những bài thơ về thế thái nhân tình xuất hiện khá nhiều trong Santé thi tập. Một mặt, Phan Châu Trinh ca ngợi cách sống tốt đẹp, tình nghĩa, nhân hậu, thuỷ chung qua việc vận dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao theo hướng tích cực để làm nhan đề cho những bài thơ: Đói cho sạch, rách cho thơm, Ăn cây nào rào cây ấy, Uống nước chừa cặn, Quân tử nhứt ngôn, Còn chồi lên cây, Ăn trái nhớ kẻ trồng cây v.v…:
Đói rách xưa nay cũng thế thường,
Cho thơm, cho sạch lắm người thương.
Muối rau giữ phận lòng băng tuyết,
Chài lưới che thân dạ quế cương. (Đói cho sạch rách cho thơm)
Mặc khác, ông chỉ trích, phê phán lối sống gian tham, lừa lọc, bạc tình, bạc nghĩa, nhỏ nhen…vv cũng qua việc vận dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao theo hướng tiêu cực: Giậu ngã bìm leo, Trâu cột ghét trâu ăn, Đục nước béo cò, Rung cây nhát khỉ, Luồn gió bẻ măng, Ăn cháo đái bát, Ma cũ ăn hiếp ma mới…vv:
Thói chi bạc bẽo nghĩ mà coi,
Ăn cháo rồi xây đái bát hồi.
Mới húp quanh đây chưa quệt mỏ,
Sẵn đồ rác đó đã dìa bòi.
Thiếu chi hè xó trây dơ nhớp,
Mấy tí công ơn phủi sạch sòi.
Có lúc đầu đàng ngồi liếm lá,
Cơm thừa ai thí lũ quân toi! (Ăn cháo đái bát)
Cũng với tinh thần phê phán, Phan Châu Trinh lên tiếng đả kích bọn quan lại. Quan lại là người chuyên nói gian dối, muốn nói gì thì nói:
Thiên hạ kìa ai muốn nói gian,
Phải xin kiếm miếng để làm quan.
Trăm điều chỉ thích tuồng thêu dệt,
Hai miệng nên mua bực thép gang.
Mặc sức khua hầu rồi múa miệng,
Dám ai chọc mắt lại trêu gan. (Muốn nói gian làm quan mà nói)
Ông dùng lối chiết tự để mỉa mai một cách chua chát miệng nhà quan:
Chữ nghĩa khen ai khéo đặt bày,
Chữ quan hai khẩu, gẫm thày lay.(Chữ quan hai chữ khẩu)
Quan có hai cái miệng nên muốn nói kiểu gì cũng được, có thể đổi trắng thay đen để vơ vết của dân, dân vô tội không có tiền phải chịu oan ức:
Mặc sức khua hầu rồi múa lưỡi,
Dám ai chọc mắt lại trêu gan.
Cửa tiền, cửa hậu xa chi mấy,
Mũ quạ, chưn trơn bạn hởi khoan. (Muốn nói gian, làm quan mà nói)
Thời đại nhiễu nhương, quan không còn là cha mẹ của dân mà trở thành thú dữ ăn thịt cả dân:
Không thương vì bởi con không đẻ,
Hùm dữ càng hay ních thịt càn. (Quan là cha mẹ dân)
Phan Châu Trinh phê phán thói hư tật xấu trong dân gian và bọn quan lại thối nát để đánh thức lương tri, để dân từ bỏ sự lạc hậu, lỗi thời. Đây cũng chính là mong muốn của Cụ Phan để “tân dân” – một nội hàm trong tư tưởng chấn hưng dân khí.
Để chấn hưng dân khí thì phải tân dân, muốn tân dân thì phải mở mang trí tuệ. Phan Châu Trinh, một mặt phê phán sự hiểu biết hạn hẹp kiểu Ếch ngồi đáy giếng, coi trời bằng vung hay chỉ quanh quẩn trong lũy tre làng như kiểu Gà cồ ăn quẩn cối xay, Mèo khen mèo dài đuôi…vv. Mặt khác, ông đề cao sự học và phê phán thói lười học:
Học trò học trỏ khéo lôi thôi,
Học chữ chưa hay khéo vét nồi.
Nghĩa đã quen đâu giao lại sách,
Cháy còn dính đó để cho tòi. (Học trò học trỏ học tro,
học chưa hay chữ đã lo vét nồi)
Theo Phan Châu Trinh, có học mới có đức hạnh, mới mong giúp được nhân dân, đất nước, mới có thể kinh bang tế thế:
Nước ta nhứt sỹ bơi cao phân,
Danh vọng bao nhiêu gánh cũng cân.
Đức hạnh vẹn toàn thay đạo giáo,
Kinh luận gồm đủ giúp vua dân. (Nhứt sỹ)
Có học, có chữ nghĩa mới đáng quý:
Bồ anh đầy lúa dạ không màng,
Em chỉ tham anh chữ mấy hàng. (Không tham bồ lúa anh đầy,
tham ba hàng chữ làm thầy thế gian)
Phan Châu Trinh đề cao sự học qua giáo dục. Theo ông giáo dục con cái phải kết hợp cả giáo dục từ trong gia đình và xã hội. Đối với giáo dục gia đình, dạy con cần phải dạy từ trong bào thai:
Khôn dại đục trong mình chuốc cả,
Dạy con xin dạy thuở trong thai. (Đạo mẹ)
Và giáo dục con phải là trách nhiệm chính của cha mẹ và cha mẹ phải là tấm gương sáng:
Thế gian khó nhứt đạo làm cha,
Trước phải lo sao sạch thói nhà.
Khuôn rập dễ in từ thuở bé.
Méo tròn làm mẫu bởi mình ta. (Đạo cha)
Ngoài giáo dục trong gia đình, Phan Châu Trinh còn đề cao sự học ở thầy và bạn. Học ở thầy ở bạn sẽ nên người:
Học bạn thì nên tự thủa nay,
Học thầy so lại gẫm không tày.
Lạnh lùng cửa tuyết lời khôn cạn,
Ấm áp nhà lan dạ dễ bày. (Học thầy không tầy học bạn)
Muốn chấn hưng dân khí phải đề cao sự học, đề cao giáo dục để mở mang trí tuệ, tức là nâng cao dân trí. Có được dân trí, chấn hưng được dân khí thì dân sinh mới mạnh giàu bền vững. Trong Santé thi tập, có nhiều bài thơ Phan Châu Trinh nói về dân sinh, trong đó ông giành hẳn 4 bài bàn về 4 nghề: sĩ, nông, công, thương (Nhứt sỹ, Hai nông, Ba công, Bốn thương). Ông ca ngợi 4 nghề và xem trọng sự đóng góp của nó cho dân sinh, đất nước:
Nước ta nhứt sỹ bởi cao phân,
Danh vọng bao nhiêu gánh cũng cân. (Nhứt sỹ)
Giúp đỡ loài người chắc một vai,
Thói nông thuần hậu gẫm không sai. (Hai nông)
Công nghệ nhơn dân thiếu dễ cà,
Đồ chi cũng bởi đấy sinh ra. (Ba công)
Trong thế không thương gẫm gió chơi,
Nghề buôn cũng lắm giúp công người. (Bốn thương)
Trong hoàn cảnh nước mất, nhà tan, nhưng Phan Châu Trinh luôn tin tưởng về giá trị bất diệt của dân khí Việt Nam:
Ít bữa cạn ao bèo đến đất,
Sông cao mười trượng vẫn hoàn sen. (Nước lụt bèo
khỏa sét trên sen)
Và ông luôn lạc quan, đặt niềm tin vững chắc vào việc chấn hưng dân khí, vào tương lai của dân tộc cho dù đất nước đang bị áp bức, đô hộ:
Mặc ai đốn phá, mặc lung lay,
Nếu hãy còn chồi chắc có cây.
- Kết luận
Trong giai đoạn văn học giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, văn học dân gian chưa được chú trọng, trong chốn lao tù ngột ngạt ở trời Tây, Phan Châu Trinh đã vận dụng những câu tục ngữ, ca dao và ngôn ngữ bình dân làm thành Santé thi tập. Điều đó quả thật phi thường và đáng trân quý. Những câu nói thường ngày, những câu ca mộc mạc của quê nhà đã được Phan Châu Trinh thổi hồn thành những vần thơ Đường luật với nội dung tư tưởng mới mang tầm thời đại.
Santé thi tập đã khắc họa khá đầy đủ chân dung của Phan Châu Trinh. Một người yêu nước nồng nàn và đang bị bắt giam ở trong ngục tối. Cảnh lao tù không làm ông khuất phục mà còn thể hiện tinh thần bất khuất, lên án chế độ nhà tù thực dân và luôn một lòng hướng về quê hương đất nước. Bằng tinh thần lạc quan, tin tưởng; sự vận dụng linh hoạt, tài tình lời ăn tiếng nói của dân tộc; Santé thi tập thể hiện rõ tư tưởng chấn dân khí của Phan Châu Trinh. Ông luôn hướng về cội nguồn, truyền thống tốt đẹp dân tộc, đề cao tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường, đạo lý, nghĩa tình, phê phán thói hư tật xấu, xóa bỏ lạc hậu, mong muốn tân dân, mở mang dân trí, chú trọng dân sinh để chấn hưng dân khí.
Trong tiến trình hiện đại hóa thơ của văn học đầu thế kỷ XX, sử dụng thơ Đường luật kết hợp với ngôn ngữ bình dân và vận dụng sáng tạo ca dao, tục ngữ để chuyển tải tư tưởng mới của thời đại mới là một nỗ lực rất đáng trân trọng của Phan Châu Trinh – một trong những nhà canh tân nổi bậc của Việt Nam thời kỳ này. Santé thi tập ra đời trong chốn lao tù. Mỗi bài thơ là một lời giáo huấn sâu sắc, thiết thực, tiến bộ, Santé thi tập không chỉ xứng đáng là ngọn đuốt soi đường cho dân tộc thời bấy giờ mà còn là những bài học quí báu cho chúng ta trong xu thế hội nhập trên nền tảng vững chắc là truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
: Lê Đắc Tường











Ghé thăm hôm nay : 461
Tháng này : 7541
Năm này : 278838
Tổng lượt truy cập : 278838
Số người đang online : 6