Đén với Bài thơ CẢM KHÁI của Cụ Huỳnh Thúc Kháng
CẢM KHÁI
“Nợ bầy đeo đuổi giục bên người,
Chả để nằm yên xó góc trời.
Biển Bắc dê cùng chung mấy độ,
Nhành Nam chim sẵn ổ muôn đời.
Rừng sâu với quế ca xăng xái,
Hang thẳm tìm lan dạo thảnh thơi!
Rốt cuộc máu lòng tìm chỗ dốc,
Sử xanh núi biếc rưới cùng nơi”
Huỳnh Thúc Kháng
Bài thơ “Cảm khái” của Huỳnh Thúc Kháng là một khúc tráng ca ngắn gọn mà dồn nén, kết tinh khí phách của một bậc chí sĩ suốt đời mang nặng nợ nước non. Đọc bài thơ, ta không chỉ bắt gặp cảm xúc cá nhân mà còn nghe thấy nhịp đập của một thời đại đầy biến động, nơi con người phải đối diện với lựa chọn sống – chết, an nhàn – dấn thân.
Ngay từ hai câu đề, tác giả đã khẳng định một trạng thái tâm thế không thể tĩnh tại:
“Nợ bầy đeo đuổi giục bên người,
Chả để nằm yên xó góc trời.”
“Nợ bầy” ở đây không chỉ là nợ với gia đình, mà còn là nợ với đồng bào, với dân tộc. Đó là thứ “nợ” thiêng liêng của người trí thức trước vận mệnh đất nước. Chính vì vậy, nó “đeo đuổi”, “giục giã”, không cho phép con người sống đời an phận. Câu thơ mang âm hưởng dằn vặt, thôi thúc, thể hiện rõ một nội tâm luôn bị lương tri đánh thức. Ở đây, ta thấy hiện lên hình ảnh một con người không chấp nhận sự tầm thường, càng không thể quay lưng trước thời cuộc.
Đến hai câu thực, tác giả mở rộng không gian tư tưởng bằng những hình ảnh ẩn dụ:
“Biển Bắc dê cùng chung mấy độ,
Nhành Nam chim sẵn ổ muôn đời.”
“Biển Bắc” – “Nhành Nam” gợi ra hai phương trời xa cách, tượng trưng cho cảnh tha hương, lưu lạc và cả những lựa chọn sinh tồn. Hình ảnh “dê” và “chim” như những sinh thể tự nhiên, mỗi loài đều có nơi chốn của mình. Nhưng con người – đặc biệt là người mang chí lớn – lại không thể an nhiên như vậy. Câu thơ vừa mang tính triết lý, vừa gợi cảm giác bơ vơ: giữa đất trời rộng lớn, đâu là chốn dừng chân xứng đáng cho một tấm lòng luôn hướng về đại nghĩa?
Hai câu luận chuyển sang sắc thái lãng mạn, nhưng ẩn sâu bên trong vẫn là tinh thần nhập thế:
“Rừng sâu với quế ca xăng xái,
Hang thẳm tìm lan dạo thảnh thơi!”
“Quế”, “lan” là những hình ảnh ước lệ cho phẩm chất cao quý. Cảnh “rừng sâu”, “hang thẳm” gợi sự gian truân, hiểm trở. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là thái độ của con người: “xăng xái”, “thảnh thơi”. Đây không phải là sự nhàn tản thực sự, mà là phong thái ung dung của người đã chọn con đường khó khăn nhưng không hề nao núng. Cái “thảnh thơi” ấy chính là bản lĩnh: dẫu gian nan vẫn giữ được cốt cách thanh cao.
Hai câu kết nâng tầm tư tưởng bài thơ lên một tầng cao bi tráng:
“Rốt cuộc máu lòng tìm chỗ dốc,
Sử xanh núi biếc rưới cùng nơi.”
“Máu lòng” là kết tinh của nhiệt huyết, của hy sinh. “Tìm chỗ dốc” gợi đến điểm tận cùng – nơi con người sẵn sàng đổ xuống vì lý tưởng. Và khi “máu lòng” ấy hòa vào “sử xanh núi biếc”, nó không còn là mất mát cá nhân mà trở thành bất tử. Đây chính là quan niệm sống của bậc chí sĩ: cái chết không phải là kết thúc, mà là sự hóa thân vào lịch sử, vào non sông.
Toàn bài thơ mang đậm phong cách Đường luật: chặt chẽ trong niêm luật, hàm súc trong ngôn từ, nhưng lại tràn đầy khí phách Việt Nam. Đặc biệt, giọng điệu bài thơ không bi lụy mà giàu tính hành động, thể hiện rõ tinh thần dấn thân của tác giả – một con người suốt đời gắn bó với phong trào yêu nước.
“Cảm khái” vì thế không chỉ là lời tự bạch, mà còn là lời hiệu triệu thầm lặng. Nó nhắc người đọc hôm nay về một lẽ sống: con người chỉ thực sự có ý nghĩa khi biết vượt qua sự an nhàn cá nhân để hướng đến những giá trị lớn lao hơn. Và chính trong sự dấn thân ấy, con người tìm thấy sự bất tử của mình.
4.0
Bottom of Form












Ghé thăm hôm nay : 1892
Tháng này : 35084
Năm này : 59304
Tổng lượt truy cập : 59304
Số người đang online : 20