Chùm thơ Xướng hoạ Nhiều Tác gỉa do Thi l ão Trần Hữu Truyện biên tập
Chùm thơ Xướng hoạ Nhiều Tác gỉa do Thi l ão
Trần Hữu Truyện biên tập
Xướng
VỊNH SONG TRUNG
Đặng Quí dịch
Sự tích tôi ngay có sử vàng
Bùi ngùi hương cảo lật từng trang
Một mưu thí tướng giang sơn phục
Hai đấng liều thân tiết nghĩa toàn
Rượu độc nhấp ngon mùi chánh khí
Lửa hồng hun mát tấm trung can
Ngàn năm Ngô – Võ gương vằng vặc
Cùng với trời trăng chiếu Cổ Bàn.
Họa
Y ĐỀ VỊNH SONG TRUNG
Trần Hữu Truyện
Thác được danh ghi rực bảng vàng
Ngàn thu thanh sử viết nên trang
Xã thân Võ tướng ba quân vẹn
Vong mạng Văn quan chín bệ toàn
Lấy ngọn lửa thiêng nêu chí khí
Mượn bình độc dược tỏ tâm can
Anh hùng thắng khóc anh hùng bại (*)
Công tội ngàn sau miễn luận bàn!
(*) Dẫn lời của Giáo sư Sử học Lê Văn Lan.
Tướng Trần Quang Diệu dẫn quân vào tiếp quản thành.
Thấy cảnh tượng như vậy cảm động rơi nước mắt,
cho lệnh chôn cất hẳn hoi, quân sĩ không mất một ai!
Xướng
VỊNH MIẾU THỜ SONG TRUNG
Đặng Quí dịch
Miếu thờ Ngô Võ đổ từ lâu
Cảnh cũ thăm qua dạ thấy đau!
Lở lói Tam quan dơi sáng khóc
Tiêu điều Bát giác quạ chiều sầu!
Trên bàn thần vị mồi cho mối
Quanh mộ Hậu quân lách với lau
Trung nghĩa xưa nay gương đáng học
Đền tuy hoang phế sử tươi màu!
Họa
VỊNH SONG TRUNG MIẾU
Trần Hữu Truyện
Ngô Võ miếu thờ lập đã lâu
Ngày nay hoang phế nghĩ mà đau
Tam quan cổng cũ trùng rên thảm
Bát giác lầu xưa cuốc gọi sầu
Hương án Văn thần phơi giữa gió
Mộ phần Võ tướng khuất trong lau
Nhớ công hạn mã bia xanh tạc
Trãi mấy tang thương chữ ngã màu.
Xướng
NGỘ CỐ NHÂN
Trần Hữu Truyện
Những tưởng duyên nhau được tác thành
Đâu ngờ đôi lứa lỗi ba sinh
Em buồn phận gái đành ngơ mặt
Ta thẹn đời trai phải nhạt tình
Thuở trước chia xa đầu chữa bạc
Bây giờ gặp gỡ tóc thôi xanh
Đôi đàng cách biệt từ chinh chiến
Dị lộ phần ai nấy độc hành.
Ho ạ Y đ ề Tự hoạ:
Bài NGỘ CỐ NHÂN
Ai cũng bao phen mộng bất thành
Cũng buồn định mệnh kiếp nhân sinh
Đắng cay bởi đắm vòng danh lợi
Tê tái vì say mộng thế tình
Chua xót nhìn gương thương tóc bạc
Ngậm ngùi tính tuổi tiếc ngày xanh (tôi sanh 1935)
Khói sương bảng lảng chiều đang xuống
Nghe thoảng ai ngâm “Tống biệt hành”(*)
(*)Thơ Thâm Tâm
Xướng
SỨC SỐNG NƠI ANH
Thường Quân
Ở giữa muôn người đã có anh
Anh là cân não kết tinh thành
Đem lời anh dệt tươi đời mới
Chuyển ý anh làm rạng sử xanh
Anh dựng vườn hoa bằng mỹ cảm
Anh xây cuộc sống cả chân tình
Với anh thơ trổ đầy lan trúc
Anh thấy anh không phải độc hành!
Họa
ANH MUỐN
Trần Hữu Truyện tặng anh Trần Hữu Vinh
Anh muốn đem tài thử sức anh
Anh đâu tính chuyện bại hay thành
Anh lưu luyến mãi thời xuân thắm
Anh ấp ủ hoài mộng tuổi xanh
Anh chạnh ở lòng câu thế thái
Anh buồn trong dạ, chữ nhân tình
Anh đang đau đáu hồn ly xứ
Anh có thèm nghe “Tống Biệt Hành” (*)
(*) của TTKH
Xướng
NGANG NGANG
Lương Vĩnh Thành
Tuổi lão càng cao, lão lại càng
Làm thơ thích viết kiểu ngang ngang
Đã không sợ chết, không cầu khẩn
Mà chẳng lo nghèo chẳng thở than
Chưa thấy linh hồn trong thể xác
Chỉ nghe địa ngục với thiên đàn
Ngày nào còn sống còn thơ vậy
Gọi thuốc an thần tặng thế gian!
Họa
THỦ PHẬN
Trần Hữu Truyện
Không nên nghĩ cạn với suy càng
Đời trái ngang nhiều chuyện trái ngang
Đắc thế lên voi đừng hống hách
Thất thời ngã ngựa chớ rên than
Trời cao chẳng cánh về thiên quốc
Đất thẳm khôn nanh xuống địa đàn
Kém trí, thua tài đành thủ phận
Đừng lưu tiếng xấu lại trần gian!
Xướng
LỠ MỘT ĐỜI HOA
Trần Hữu Truyện
Sầu chi em để lạnh trang đài
Thao thức đêm trường thương nhớ ai?
Em đã bẽ bàng duyên cát lũy
Ta càng ấp ủ mộng liêu trai
Gối chăn năm tháng phai màu tóc
Gió bụi thời gian nhạt dấu hài
Thương một đời hoa cam phận lỡ
Sầu chi em để sắc hương phai!
Họa
TRỌNG MỘT ĐỜI HOA
Như Anh
Ta lại về chiêm ngưỡng tượng đài
Bao năm đứng đó trọn tình ai
Tiết trinh phong lại thề trời đất
Nước mắt khô rồi hóa ngọc trai
Ngày tháng đâu lu mờ trí tuệ
Nắng mưa càng rạng rỡ hình hài
Vần thơ viết họa hồn đau đáu
Khắc tận cõi lòng chẳng thể phai!
Xướng
LY ẨN
Tường Linh
Loay hoay cũng cập tám mươi rồi
Thành bại, mất còn xếp lại thôi
Nhắc tuổi, tuổi hờn năm tháng phí
Hỏi lòng, lòng chạnh nước mây trôi
Thi dàn mộng úa đau chen hận
Bằng hữu tình phải lỡ khó bồi
Tự bảo ngồi nhường cho gậy trúc
Tro tàn, thơ rụng đắng ly bôi!
Họa
SUY TUỔI HẠC
Trần Hữu Truyện
Tám mươi tôi cũng sắp qua rồi
Cay đắng, ngọt bùi nếm đủ thôi
Muốn đến Non Bồng e gió cuốn
Toan về Nước Nhược ngại mưa trôi
Tình chia khó kiếm người hàn gắn
Mộng vỡ khôn mong kẻ đắp bồi
Kê cánh tay gầy suy tuổi hạc
Lạnh lòng, lạnh cả “Dạ quang bôi”!
Xướng
MỪNG THỌ BÁT TUẦN
Hoàng Sâm
Cốc Viên nay đã tám mươi tròn
Gẫm lại cuộc đời với nước non.
Niên thiếu kề vai xua lũ giặc
Trung thời lên bục dắt đàn con
Công danh chẳng bận tầm cao thấp
Sự nghiệp nề chi chuyện mất còn
Bầu bạn, đối thơ vui tuổi hạc
Phúc phần được thế đủ vàng son!
Họa
LÚC ẤY BUỒN THAY
Trần Hữu Truyện
Sau bảy lăm đời sống chẳng tròn
Huynh về miệt nội, đệ lên non
Cấy thuê đất cứng trầy tay vợ
Gánh mướn đường xa rả gối con
Sốt ruột tìm em, em đã mất
Chạnh lòng kiếm bạn, bạn đâu còn
Buồn thay lúc ấy, thời bao cấp
Tiền khó dư thừa – gạo sạch son.
Xướng
PHẬN THUYỀN QUYÊN
Nguyên Quỳnh
Mười hai bến nước gái hằng lo!
Doi, Vịnh, đục, trong khó nỗi dò
Sâu, cạn mặc cho tay chú lái
Nổi trôi đành chịu phận con đò
Đôi chân trên đất còn ngang dọc
Một bước xuống thuyền hết tự do
Nghĩ phận thuyền quyên mà ngán ngẩm
Rủi ra rớt ngọc biết đâu mò!
Họa
CẦM BẰNG
Trần Hữu Truyện
Đã trót sinh thân gái phải lo
Mười hai bến nước gắng công dò
Có chồng chịu cảnh gông tròng cổ
Tách bến cam thân sóng đắm đò
Dang dỡ kiếp người âu bởi tại…
Bẽ bàng phận gái ấy là do…
Cầm bằng thuở nhỏ quai nôi đứt
Ngọc rớt lo chi lắm kẻ mò!
Xướng
ĐÂU DÁM SA CHÂN
Lê Văn Lộc
Đâu dám sa chân chốn hý trường
Bởi ta cùng dãi nắng dầm sương
Anh đem công sức bồi cơ nghiệp
Tôi dốc của tiền vỡ rẫy nương
Anh tặng thơ xuân người lữ thứ
Tôi mời rượu tết kẻ tha phương
Bảy mươi ta bạn cùng luôn sống
Buồn nỗi nợ trần cứ mãi vương!
Họa
CHUNG NỢ SÔNG HỒ
Trần Hữu Truyện
Đã không chung lớp, chẳng chung trường
Chung nợ sông hồ, tóc điểm sương
Vui với thơ văn, thơ phải sính
Sống cùng ruộng rẫy, ruộng thì nương(*)
Người đi nuốt mãi sầu ly xứ
Kẻ ở nuôi hoài mộng viễn phương
Lơ lửng trên cành sương giọt đọng
Giọt dường rơi nhẹ, giọt như vương!
(*) Ca dao dân gian:
– Ruộng thì nương
– Rẫy thì bái.
Xướng
TÌNH THƠ NGHĨA BẠN NHIỆM MÀU
Sĩ Trung
Ngàn trùng xa cách chẳng xa nhau
Nghĩa bạn, tình thơ quả nhiệm màu
Khi nhớ muốn thâu trời đất rộng
Lúc chờ mong lấp bể sông sâu
Mượn dòng bút mực xây đường đạo
Lấy chữ yêu thương nối nhịp cầu
Chẳng phải tông môn cùng ruột thịt
Mà lòng lưu luyến mãi xưa sau!
Họa
HẸN KIẾP SAU
Trần Hữu Truyện
Dâu bể nên đành cách biệt nhau!
Vườn thơ từ đó cũng thưa màu
Mây giăng khó đoán trời cao thấp
Sóng vỗ khôn dò biển cạn sâu
Thiên hạ dẫy đầy mưu xảo trá
Bàn dân chồng chất nỗi cơ cầu
Cười ta sự nghiệp còn tay trắng
Nghĩa bạn, tình thơ hẹn kiếp sau!
Xướng
BÓ CHỔI TỰ VỊNH
Trần Hữu Vinh
Bó chổi nghề này quí hóa thay!
Say sưa làm mãi tự xưa rày
Được mua gạo nấu vài mươi bữa
Lại có tiền tiêu mấy chục ngày
Tuy lúc giao hàng lòng thấp thỏm
Nhưng hồi lãnh bạc dạ hăng say
Món hàng xuất khẩu người ưa thích
Ngoại tệ thu về lợi thấy ngay!
Họa
BỤI TRẦN QUÉT MÃI
Trần Hữu Truyện
Anh ngồi bó chổi thấy thương thay!
Từ buổi sơ khai mãi đến rày
Tìm việc phôi pha vui đoạn tháng,
Ra công lây lất sống qua ngày!
Gia đình khắc khoải buồn tan hợp.
Sự nghiệp mơ màng mộng tỉnh say!
Chổi được trên ban làm lệnh tướng
Bụi trần quét mãi chẳng nương tay!!! (*)
(*) người họa xin sửa câu cuối
Xướng
TAM GIAO TAM HỢP
Rắn – Trâu – Gà
Tuyệt đẹp Y-THU-TRUYỆN bộ ba!
Tam giao tam hợp Rắn – Trâu – Gà
Thi thơ thuở trước còn khiêm tốn
Tình cảm bây giờ dậy tối đa
Nghề dẫu khác nhau lòng chẳng khác
Tuổi dầu xa lệch dạ không xa
Nghìn trùng cách trở càng thương mến
Tưởng một quê hương, tưởng một nhà!
Họa TỴ DẬU SỬU Y-THU-TRUYỆN
Y nhất, THU nhì, TRUYỆN thứ ba.
Rắn, Trâu sau trước, giữa vai Gà
Xưng hô chẳng nệ chi già trẻ
Xướng họa đâu nề chuyện thiểu đa
Mặt cách tình thơ đâu để cách
Đường xa nghĩa bạn nỡ cho xa
Tam giao, tam hợp cùng chung hội
Xây đẹp vườn thơ, đẹp cảnh nhà!
Xướng
TÁT TRĂNG
Đinh Vũ Ngọc
Trăng vàng cô múc đổ đi đâu?
Thu cả vầng trăng với chiếc gàu
Lai láng trăng tràn trên ruộng cạn
Dạt dào trăng chảy xuống mương sâu
Nước trăng quành quạnh soi hai bóng
Trăng nước lung linh sáng một màu
Cô nhỉ? đôi ta cùng tát nhé
Đêm nay cho cạn bớt trăng sầu!
Họa
TÁT CẢ SẦU
Trần Hữu Truyện
Em tát trăng vàng biết đổ đâu?
Trăng tan từng mảnh đọng trong gàu
Nước trăng cuồn cuộn rông đồng cạn
Trăng nước lững lờ ngập rảnh sâu
Nước lộng trăng vàng trăng đổi sắc
Trăng lồng nước biết nước phai màu
Âm ba vọng tiếng gàu em tát
Tát cả vầng trăng, tát cả sầu!
Xướng
LỘC TRỜI BAN
Lê Phước Thuận
Đào mai khoe nụ lộc trời ban
Rực rỡ muôn hoa dưới nắng ngàn
Đôi bướm tung tăng bên chậu cúc
Đàn ong hý hửng giữa giò lan
Én vui dang cánh đan trời mộng
Tâm cảm thành thơ gởi bạn vàng
Kính chúc an khang – đời thịnh vượng
Gia đình hạnh phúc đón xuân sang!
Họa
ÉN BÁO TIN XUÂN
Trần Hữu Truyện
Muôn hồng ngàn tía chúc xuân ban
Ngào ngạt hương hoa quyện gió ngàn
Ánh nắng Xuân tươi cành thượt dượt
Giọt mưa Xuân mát đóa phong lan
Vần thơ Xuân tặng vui duyên thắm
Chén rượu Xuân trao đẹp mộng vàng
Dỗ giấc canh thâu vừa chớp mắt
Thềm Xuân thoi én báo tin sang!
Xướng
LỜI VỌNG
Trần Hữu Phú
Lời vọng đâu về sao xót xa
Sương khuya còn đọng ánh dương tà
Xem tranh tố nữ mờ nhân ảnh
Dạo khúc ân tình lạc phiếm hoa
Hóa kiếp thi nhân đời lãng bạt
Đăng quang hoa hậu lệ phai nhòa
Mai sau thành đá hình in bóng
Theo dõi ngàn năm cánh nhạn sa!
Họa
ĐẤT DỆT TRỜI THÊU
Trần Hữu Truyện
Đưa em về tận chốn quê xa
Lẻ bước đường trưa dưới nắng tà
Em dấu niềm đau trong khóe mắt
Ta vùi nỗi nhớ trước hiên hoa
Duyên tình Ngưu Chức đành cam nhạt
Đạo nghĩa Lưu Dương chẳng dễ nhòa
Đất dệt, trời thêu trang lệ sử
Ai buồn, ai tủi giọt châu sa!!!
Xướng
NGÀY ẤY ANH ĐI
(Thơ Đường đầu tay của Trần Hữu Nhân(
Nghe rằng anh phải tha phương
Bởi lẽ sinh nhai nghĩ cũng thường
Bỏ chốn quê cha nghề cuốc mướn
Tìm nơi đất khách nghiệp doanh thương
Ra đi anh nhớ đời đen bạc
Ở lại tôi đau kiếp chán chường
Con cái cả bầy ai dễ tưởng
Kiếp nghèo xua đuổi biệt quê hương!
Họa
NƯƠNG THÂN ĐẤT KHÁCH
Trần Hữu Truyền
Đi tìm lẽ sống biết bao phương
Đất khách nương thân chẳng dễ thường
Thủ phận hàn vi không kẻ ghét
Bon chen phú quý chẳng người thương
Vẫy tay gọi bạn còn e vẫy
Chường mặt nhìn ai cũng ngại chường
Nặng gánh thê nhi đành phải chịu
Cam lòng nhận lấy kiếp ly hương!!!
Xướng
TỰ KHÚC NGÀN THƠ
Lôi Vũ Tử
Nén hương đất Việt dậy ngàn thơ
Kết nghĩa tri âm gối vận chờ
Tắm gió Đông Xuân tình dệt mộng
Vén mây Thu Hạ nguyệt đơm mơ
Nơm na cú pháp từ khôn dại
Mộc mạc văn phong ý tỏ mờ
Trải thảm hoa hồng vui mặc khách
Hồn say xướng họa lộng đường tơ!
Họa
NỐI DUYÊN HÀN MẠC
Trần Hữu Truyện
Đáp họa vần thơ của bạn thơ
Nối duyên Hàn Mạc thỏa mong chờ
Đêm tàn rượu dã say vừa tỉnh
Bấc lụn dầu hao thực hóa mơ
Chuyện tục nghe hoài tai muốn điếc
Điều thanh đọc mãi mắt không mờ
Mượn điều thi phú làm thư giản
Như kiếp con tầm phải nhả tơ!
Xướng
BIẾT SỐNG AN NHIÊN
Văn Chinh
Biết sống an nhiên giữa cõi trần
Yêu đời cầu tiến vững đôi chân
Vào miền tri thức tìm ngôn thánh
Gõ cửa tư duy gợi tứ thần
Mỹ ý tương thông, vui bể ải
Minh tâm đồng cảm đẹp trời ân
Trãi lòng trân trọng mời thi khách
Đối bút giao lưu họa ít vần!
Họa
NGUYỆN LÒNG
Trần Hữu Truyện
Khách phong trần gặp buổi phong trần
Lòng nguyện giữ tròn Thiện Mỹ Chân
Chớ tưởng bụt hiền đi cạnh bụt
Đừng quên thần dữ ở bên thần
Cười ta mãi bận vòng cơm áo
Khen bạn đã tròn chuyện nghĩa ân
Nhìn cảnh gạo châu đun củi quế
Mà buồn con tạo khéo xoay vần!
Xướng
THĂM CHÙA NON NƯỚC
Lê Điềm
Đất QUẢNG quê ta có Ngũ Hành
Năm hòn non bộ đứng chầu quanh
Qua bao lửa đạn chùa không mất
Trãi đủ tang thương Phật vẫn lành
Động vọng chuông chiều quên bã lợi
Chùa vang mỏ sớm lánh mồi danh
Dâng hương lễ Phật xin cầu nguyện!
Đại lực từ bi độ chúng sinh!
Họa CẦU PHẬT TỔ
Trần Hữu Truyện
Nhà Chùa, cửa Phật chốn tu hành
Nghi ngút hương trầm khói tỏa quanh
Kinh kệ đêm ngày răn tính thiện
Mỏ chuông khuya sớm nguyện tâm lành
Bụi Trần bẩn xác nào thơm tiếng
Mùi Đạo chay lòng hẳn tốt danh
Quỳ trước đài sen cầu Phật Tổ
Từ bi hỷ xã cứu muôn sinh!
T.H.T











Ghé thăm hôm nay : 3164
Tháng này : 13226
Năm này : 37446
Tổng lượt truy cập : 37446
Số người đang online : 21