Trường thi Bình Định – nơi phát ngôn đầu tiên của phong trào Duy tân ở miền Trung đầu thế kỷ XX .GS. Nguyễn Đình Chú
Trường thi Bình Định – nơi phát ngôn đầu tiên của phong trào Duy tân ở miền Trung đầu thế kỷ XX
Nguyễn Đình Chú
Tôi là người Nghệ An cách xa Bình Định hơn sáu trăm cây số. Mà mỗi lần nghe đến cái tên Bình Định thì tôi nghĩ ngay đến phong trào khởi nghĩa Tây Sơn với vai trò lãnh đạo của Quang Trung đánh tan thù trong giặc ngoài, chiến thắng 20 vạn quân Thanh xâm lược, “Quang Trung đế từ khi độc lập / Khí anh hùng đầy lấp giang sơn” (Phan Bội Châu) mà Quang Trung lại là gốc Nghệ của tôi. Nghĩ đến Bình Định, tôi cũng nhớ đến Tăng Bạt Hổ là người Bình Định đã dẫn đường cho cụ Phan xứ Nghệ của tôi lên đường Đông du để có một phong trào Đông du điểm son chói lọi trong phong trào cứu nước đầu thế kỷ XX. Đúng là với tôi, dù chưa hiểu biết gì lắm, nhưng sau Nghệ An là nơi Tổ tiên tôi bao đời đã sống, là nơi chôn nhau cắt rốn của tôi, Hà Nội ngàn năm văn vật là đất hứa, là thánh địa cho tôi sự sống, Huế là cố đô mà cả nước ai cũng quý cũng yêu và tôi cũng thế, thì Bình Định là một tỉnh tôi có nhiều ấn tượng tốt đẹp. Bởi đây là đất dấy nghĩa của phong trào Tây Sơn đã đành, còn là đất có Mai Xuân Thưởng một lãnh tụ cần vương, có Đào Tấn từng là Tổng đốc tỉnh Nghệ của tôi, nhưng sáng danh là sư tổ của nghệ thuật tuồng, văn học tuồng Việt Nam mà tôi là người từng ít nhiều đã giảng dạy văn học tuồng tại khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội cách đây hơn nửa thế kỷ. Có Quách Tấn quê Bình Định cùng với nữ sĩ Ngân Giang quê Hà Nội là hai bông hoa đẹp nhất của thơ Đường luật Việt Nam ở thời buổi mà thơ Đường luật bị thất thế trước phong trào Thơ mới. Chưa nói Quách Tấn còn là tác giả của Nước non Bình Định đã gieo vào lòng tôi tình yêu Bình Định. Với tôi đây là một công trình Dư địa chí hấp dẫn nhất. Đặc biệt, Bình Định, mà trực tiếp nhất là trường Collège Bình Định, một trong ba trường quốc học ở bậc cao đẳng tiểu học Primaire supérieur của Trung kỳ dưới thời Pháp thuộc đã là cái lò un đúc cho đất nước mấy thi bá thí tài: Quách Tấn, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan, và Xuân Diệu “nhà thơ mới nhất của Thơ mới”, vốn là “cha Bắc (xứ Nghệ) mẹ Nam” (Gò Bồi – Bình Định)….
Bình Định với tôi nói qua là thế. Nhưng hôm nay tôi muốn nói về một hiện tượng lịch sử của Bình Định. Ấy là sự kiện Trường thi Bình Định từng là nơi phát ngôn đầu tiên của công cuộc Duy tân ở miền Trung từ 1905 đến 1908.
***
Phải nói ngay rằng Quảng Nam với các chí sĩ trứ danh như Tiểu La Nguyễn Thành, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, mới là nơi tiên phong trong công cuộc Duy tân ở miền Trung thời đó. Nhưng với hiểu biết hiện thời của tôi thì nơi có phát ngôn đầu tiên về tư tưởng duy tân lại không phải ở Quảng Nam mà ở Bình Định. Cụ thể là vào năm 1905, ba chí sĩ Quảng Nam là Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp trên đường vào Nam vận động duy tân, đi qua Bình Định thì đúng vào dịp trường thi Bình Định đang có cuộc khảo hạch chuẩn bị cho kỳ thi Hương sắp tới. Ba ông đã ở lại và lấy tên là Đào Mộng Giác (người họ Đào tỉnh mộng) tham gia khảo hạch với một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luât có nhan đề Chí thành thông thánh (Lòng chí thành cảm đến cả thần thánh) và một bài phú có nhan đề Lương sơn danh ngọc phú (bài phú Lương sơn danh ngọc). Hai văn phẩm này không chỉ gây tiếng vang lớn trong cuộc khảo hạch ở trường thi Bình Định bấy giờ, mà còn với cả nước đương thời, với hậu thế, những ai quan tâm và có hiểu biết về tình hình duy tân của đất nước đầu thế kỷ XX nói chung, về tình hình giáo dục và chế độ thi cử Hán học bấy giờ của đất nước nói riêng. Với Phan Châu Trinh vốn được coi là tác giả của bài thơ và Huỳnh Thúc Kháng vốn được coi là tác giả của bài phú thì hầu hết các công trình nghiên cứu về hai Cụ vẫn coi đó là tác phẩm mở đầu tư tưởng duy tân của hai Cụ. Xin mời quý vị dù đã biết hay chưa biết cùng thưởng thức về hai danh phẩm này:
Chí thành thông thánh
Nguyên tác:
Thế cuộc hồi đầu dĩ nhất không
Giang sơn vô lệ khấp anh hùng
Vạn dân (1)nô lệ cường quyền hạ
Bát cố văn chương túy (2) mộng trung
Trường thứ bách niên cam thỏa mạ
Bất (3)tri hà nhật xuất lao lung
Chư quân vị tất vô tâm huyết
Bằng hướng tư văn khán nhất thông.
- Có bản chép: gia.(2) Có bản chép: thụy.(3) Có bản chép: cánh
Dịch nghĩa: Quay đầu lại nhìn cuộc đời chỉ thấy một khoảng trống không. Vì giang sơn, anh hùng đã khóc hết nước mắt, nay chẳng còn đâu nước mắt nữa để khóc. Muôn dân đều đã phải sống kiếp nô lệ dưới ách cường quyền. Tiếc là nhiều người thì đang say mê trong giấc mộng khoa cử văn chương bát cổ vô ích. Nên suốt một trăm năm nay đành chịu cho người ta thóa mạ. Không biết ngày nào mới thoát khỏi chốn lao lung. Các anh chưa hẳn là người hết tâm huyết thì hãy dọc hết bài thơ này.
Dịch thơ: Việc đời ngoảnh lại còn chi
Anh hùng hết nước mắt vì giang sơn.
Muôn dân nô lệ một đàn,
Văn chương bát cổ nồng nàn giấc mơ.
Trăm năm cam chịu đọa đầy,
Thì bao giờ mới hết ngày lao lung.
Các anh tâm huyết nào không,
Bài này hãy thử xem cùng đầu đuôi.
(Phan Võ dịch)
Bài thơ đã cho hậu thế thấy nỗi đau mất nước, nhân dân nô lệ lầm than thuở ấy của tác giả nặng nề đến mức nảo. Đau và khóc. Khóc đến cạn hết nước mắt, không còn gì nữa để khóc. Nước mắt hết rồi nhưng nỗi đau thì vẫn nặng nề chồng chất nặng nề. Vì sao mất nước để dân lầm than khổ cực như thế? Là vì cái nền giáo dục có chế độ khoa cử Hán học với lối văn chương bát cố (tám vế) đã quá lỗi thời mà các trường thi trong cả nước trong đó có trường thi Bình Định vẫn đang đắm đuối với nó chứ còn gì. Các vị ơi ! đừng mê muội nữa. Hãy tỉnh mộng đi. Bởi các vị cũng chưa phải đã cạn hết tâm huyết với non sông đất nước. Hãy đọc hết bài thơ này.
Lương sơn danh ngọc phú
Thuộc thể phú là thể tài văn học khó viết nhất trong các thể tài văn học cổ. Qua bản dịch của bậc đại nho Phó bảng Phan Võ, ta sẽ thấy nổi lên những ý tưởng cơ bản như sau:
Mở đầu là nỗi đau, một trạng thái sốt ruột đến tột độ vì nhìn ra trong khu vực châu Á của mình, người ta thì đang sục sôi cải cách duy tân, còn nước mình thì cứ mê muội, ù lì, cháy nhà rồi mà mặt mày vẫn hơn hớn trơ trơ như không có chuyện gì:
“Sao chẳng thấy đồng bào ta ở Á châu;
Anh hùng sôi nổi, chí sĩ tranh đua.
Cụ Nam Hải giữa trung châu cổ động;
Chàng Đông Sơn bên đường rộng khóc ù.
Người đều biết xâu hổ;
Tại sao không thẹn thò. Nhà yến tước há nên vui gượng;
Động Bạch Lộc khéo khéo bày trò.”
Nam Hải là biệt hiệu của Khang Hữu Vi lãnh tụ phái cải cách duy tân dưới triều Mãn Thanh ở Trung Quốc cuối thế kỷ XIX. Đông Sơn là chí sĩ duy tân của Nhật Bản. Yến là chim yến, tước là chim sẻ, được nuôi làm chim cảnh trong nhà. Nhà bị cháy mà chim vẫn hót vui. Đời Nam Tống, Chu Hy làm Thái thú ở Nam Khang xây nhà học đường ở động Bạch Lộc để dạy học trò. Ở đây, đều mượn chuyện xưa của Trung Hoa để chê trách việc khảo hạch lỗi thời vô ích đang diễn ra như ở trường thi Bình Định.
Tiếp đến, bài phú gợi lại lịch sử hào hùng của dân tộc để khơi dậy lương tâm lương tri ở những con người đang mê muội với thực trạng giáo dục lỗi thời vô bổ này:
Nguyên Việt Nam từ xưa dựng nước;
Cõi Á Đông hùng cứ một phương.
Dưới xuống Trần Lý, trên từ Hồng Bàng;
Nhân tâm thuần phác, sĩ khí quật cường.
Đuổi Tô Định khỏi đất Lĩnh biểu (1);
Bắt Mã Nhi trên sông Phú lương (2).
Kéo cờ mà nước Chiêm Thành mất hiểm;
Vẫy giáo mà đất Chân Lạp mở mang.
Mạnh thay nước Việt;
Ai dám coi thường.
(1)Lĩnh biểu: ngoài cõi Lĩnh Nam. Lĩnh Nam : Việt Nam. (2) Phú Lương: sông Nhị Hà (sông Hồng). Ở đây có sự lầm. Trần Hưng Đạo bắt sống Ô Mã Nhi ở Bạch Đằng giang chứ không phải ở sông Hồng.
Tiếp đến, bài phú trực tiếp lên án chế độ thi cử vô tích sự của một nền giáo dục Hán học lỗi thời đang diễn ra như ở trường thi Bình Định này:
Bởi một thời làm sai chính sách;
Để muôn đời cam chịu tai ương.
Tục chuộng văn chương;
Sĩ đua khoa mục.
Đại cổ, tiểu cổ (1), trọn ngày miệt mài;
Ngũ ngôn, thất ngôn (2), cùng năm gạn gục.
Văn sách lóng hơi chủ khảo, Thuấn Chích (3) tùy ý khen chê;
Từ phú học mót bài Tàu (4), đối đáp câu thơ tứ lục.
Tụi công danh láo nháo, chợ Tề (5) trừng trộ cướp vàng;
Phường lợi lộc lau nhau, sân Sở (6) lom khom dáng ngọc.
Ấy không những riêng thân gia lấy bổng lộc, trên dường danh chen chúc;
Mà còn lùa nghìn vạn mũ cao áo dài, đẩy vào mấy nghìn tầng địa ngục âm ty.
(1) Đại cổ: vế lớn, tiểu cổ: vế nhỏ trong lối văn bát cổ ( tám vế) của văn chương xưa của Trung Quốc truyền sang Việt Nam mà các kỳ thi chữ Hán thí sinh phải làm ..(2) Ngũ ngôn : thơ gồm những câu năm chữ. Thất ngôn : thơ gồm những câu bảy chữ, thuộc thể thơ Đường luật.(3). Thuấn : vị vua nổi tiếng đức độ. Chích::một trùm kẻ trộm, đều của Trung Hoa xưa.. Ý câu này: khen chê lộn xộn, linh tinh, khen Thuán chê Chích, khen Chich chê Thuấn.(4).Bài Tàu: bài văn Trung quốc. (5) Chợ Tề: ở nước Tề thuộc Trung Hoa xưa có một người cướp vàng ở giữa chợ bị bắt. Hỏi y: tại sao chợ đông người như thế mà dám cướp vàng. Y đáp: lúc ấy tôi chỉ thấy vàng chứ không tháy người.(6). Biện Hòa quì ở sân dâng ngọc đá cho vua Sở ba lần mới được vua tin là ngay thật.
Bài phú kết án nền giáo dục và chế độ thi cử đã đưa đất nước đến tình trạng suy thoái khốn đốn để người dân phẫn uất dưới ách của thực dân cường quyền:
Xem cái việc sở hành tim cái điều sở dục (1)
Quân đội lấy gì hùng cường, tài chính lấy gì sung túc
Dân trí lấy gì mở mang nhân tài lấy gì giáo dục
Than ôi đau xót thay!
Dần dà cho đến ngày nay chịu điều khổ nhục
Ai gây nên tai vạ và truyền giống ác độc vày?
Sự thể đến nay, nhân tinh phẫn uất
Công ích công sưu, nay đòi mai bắt
Xương da trơ trọi ôi thôi, mỡ nạc vét vơ hết tất
Dân không dám he, quan cũng chịu khuất
Mai quan vừa thăng, chiều chức đã cất
Ta thời coi nó thần, nó thì coi ta như giống vật
Ăn năn nào kịp, đổi kế chậm rồi
Nguy hiểm đến nơi, dầu muốn tạm yên khó thật
(1)Sở hành: điều làm. Sở dục: điều muốn. Ý nói: muốn một đàng làm một nẻo, chẳng ra gì cả.
Kết thúc bài phú là những lời kêu gọi tâm huyết:
Bây giờ nén đau thương xót dạ, theo nghĩa bỏ danh
Trên các quan lại, dưới lớp thư sinh
Quăng bút dậy thẳng, treo mũ đi lanh
Còn chút hơi tàn, thời đập ấm đâm thuyền(1) đầy hứa hẹn
Vui gì sống sót, dẫu nát gan vỡ óc cũng quang vinh
Cớ sao cả năm lêu lổng, đau ngứa không hay
Mất thì giờ nơi bút cùn đen tối
Mệt tinh thần trong chết mộng sống say
Lừ đừ như lũ con sen, mặc sao chịu vậy
Tôi đây như đất (2) dấu mình đá quyết
Việc đời ghé mắt những dai
Nghĩ thân thế càng thêm cảm cảnh
Ghê cuộc đời lắm nỗi vần xoay
Sông Sở mênh mông, lệ nhỏ Trường sa(3) luống những
Gió thu xào xạc, mũ treo Thàn vũ(4) những ngày
Trông An tử trên núi Thần sơn(5) mảnh buồm dễ thấu
Đưa Kinh khanh bên sông Dich thủy(6), vĩnh biệt từ đây
Vừa hất vừa khóc, cầm bút lệ đầy
Lại cần gì” Chí thành thông thánh”,” Lương ngọc danh sơn” vậy thay.
(1) Đập ấm đắm thuyền: Hãng Vũ đem quân đi đánh nhà Tần đã đập vỡ ấm nồi cho đấm thuyền trong quân ngũ để tỏ ý không thắng thì không trở về vì chẳng có điều kiện để trở về nữa.(2). Nhà đất: thời Hán, Yên Hoành gặp thời loạn đã giấu mình trong nhà đát để khỏi tiếp ai.(3) Lệ nhỏ Trường Sa: Giả Nghị qua sông Mịch La gần Trường Sa làm một bài văn điếu Khuất Nguyên. Lời văn lâm li thảm thiết làm nhiều người rơi nước mắt.(4) Mũ treo Thần Vũ: Đào Hoàng Cảnh thời Nam Bắc Triều làm quan nước Tề thấy Tề sắp mất liền dâng biểu từ quan, treo mũ ở cửa Thần Vũ rồi vào núi đi tu. (5) An Tử: An Kỳ Sinh thời Tần ẩn ở núi Tam Thần(Bồng lai, Phương Trương, Doanh Châu). Thủy Hoàng sai Tử Sinh và Lư Sinh đi đón về nhưng ra biển gặp gió đành về không . (6) Kinh Khanh: Kinh Kha thời Chiến quốc. Thái tử Đan sai đi dánh Tần Thủy Hoàng, tiễn Kinh Kha ở bờ sông Dịch Thủy cũng là vĩnh biệt vì tráng sĩ một đi không trở lại.
***
Rõ ràng là bài thơ và bài phú, với hai thể loại văn chương nhưng chung nhau về nỗi đau mất nước, về sự chán ghét nền giáo dục và chế độ thi cử Hán học tuy đã tồn tại bao đời với đất nước và không phải không có giá trị tích cực gì nhưng nay trước hiện thời lầm than khổ cực của đất nước dưới ách thống trị của thực dân Pháp thì đã trở nên vô tích sự, kìm hãm đất nước trong vòng tăm tối. Ở đây, với hai tác giả này, một là Tiến sĩ, một là Phó bảng, từng vào ra nơi cửa Khổng sân Trinh, từng khoa trường đeo đuổi. Trường thi chữ Hán từng là nơi ước mơ, là con đường tiến thân của mình. Vậy mà nay quay ra chê bai nó, phủ nhận nó, lên án nó, thì đúng là một sự lột xác kỳ vĩ, mang ý nghĩa một cuộc cách mạng tư tưởng lớn lao đích đáng đáng cho hậu thế muôn đời chiêm ngưỡng. Dĩ nhiên, đây không chit là chuyện của hai cụ Phan Huỳnh mà là của một thế hệ nho sĩ chí sĩ duy tân đất nước ở mấy năm đầu của thế kỷ XX.với các nội dung: cải tạo một nền giáo dục nặng về sách vở, sùng cổ, ít giá trị thực tiễn để chuyển sang một nền giáo dục thực nghiệp, cấp tiến, biết thu hút tinh hoa văn hóa nhân loại tiến bộ. Nền giáo dục thực nghiệp, tiên tiến này sẽ mở mang trường học quốc ngữ, dân chủ hóa nền giáo dục khai trương các cơ sở thương mại, phát triển công nghiệp, đưa đất nước đến văn minh , hùng cường. Công cuộc duy tân 1905-1908 bắt đầu từ Quảng Nam là địa bàn sớm có thương nhân nước ngoài đến làm ăn do đó sớm được tiếp xúc và giao lưu với văn hóa nước ngoài,nên dược coi là nơi tiên phong sau đó lan ra các tỉnh miền Trung và cả nước. Nhưng chính quyền thực dân Pháp đã dập tắt và đàn áp dã man một khi công cuộc duy tân đã chuyển hướng thành phong trào chống thuế rầm rộ khắp miền Trung. Tác giả của bài thơ Chí thành thông thánh và bài phú Lương sơn danh ngọc cũng bị đày Côn Đảo. Họ Phan ba năm. Họ Huỳnh chung thân giảm xuống còn mười ba năm. Riêng ông Nghè Trần Quý Cáp thì đang làm Giáo thụ phủ Bình Hòa, Khánh hòa, nghe tin nhân dân quê mình nối dậy chống thuế, sướng quá mà reo lên: Khoái tai! Khoái tai! Đại khoái tai! thì bị kẻ thù thực dân xử chém.
Lịch sử duy tân đất nước trong dó có phong trào Duy Tân của miền Trung mà trường thi Bình Định là nơi phát ngôn đầu tiên đã diễn ra bi tráng là thế. Riêng với lịch sử văn học dân tộc thời cận đại thì hai tác phẩm Chí thành thông thánh và Lương sơn danh ngọc phú đáng coi là hai viên ngọc quý. Nó được viết theo bút pháp bác học, dùng nhiều điển cố, lấy chuyện Trung Hoa xưa để nói chuyện Việt Nam ta nay. Bởi sao vậy ? Bởi văn bút thời đó với nho gia vẫn là thế. Vả chăng, đây viết cho người đọc là các sĩ tử trường thi Hán học thì không thể khác. Với độc gia hôm nay đã xa lạ với văn chương bác học đó, chỉ cần đọc qua lời dịch đã đủ cảm nhận được tầm vóc gíá trị tư tưởng lớn lao của hai tác phẩm (*).
Yên Hòa thư trai, 7-5-2018











Ghé thăm hôm nay : 1176
Tháng này : 31276
Năm này : 262461
Tổng lượt truy cập : 262461
Số người đang online : 3