Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm . Thơ văn và nhà Tiên đoán

 

Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

阮秉谦 (1491  bis  1585) sinh năm Tân  Hợi đời vua Lê Thánh Tông Hồng Ðức thứ 22 tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng)

  Thân phụ của ông là giám sinh  Nguyễn Văn Định, nổi tiếng hay chữ nhưng chưa hiển đạt  trong  đường  khoa  cử.  Thân  mẫu  là  bà  Nhữ  Thị Thục, con gái út của Thượng thư bộ hộ Nhữ Văn Lan triều Lê Thánh Tông  Quê ông ở làng An Tử Hạ, huyện  Tiên Minh,  phủ  Nam  Sách,  trấn  Hải  Dương  (nay  là  thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, Hải  Phòng.

Theo tài liệu để lại  bà Nhữ Thị Thục là bậc nữ lưu tài hoa giỏi văn chương và tài học về lý số. Biết trước  những gì có thể xảy ra và mộng lớn con cái nên danh phận

.    Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc trẻ học  với Lương Ðắc Bằng từng là đại thần giữ chức Thượng thư dưới triều Lê sơ ông dâng những  điều trần nhằm ổn định triều chính không được vua Lê thi hành, Lương Đắc Bằng cáo quan về  quê sống đời dạy học (1509). Nguyễn Bỉnh Khiêm thông minh chăm chỉ trở thành học trò xuất sắc. Bởi vậy trước khi qua đời, Bảng nhãn Lương Đắc Bằng trao cho Nguyễn Bỉnh  Khiêm bộ sách quý về Dịch học (Chu Dịch) là Thái Ất thần kinh, từ đó ông tinh thông về lý họcvà  tướng số nghiên cứu về lý số với thiên tài “thần thông” có khả năng siêu quần, quán  chúng về thấu thị, thần giao cách cảm,Nguyễn Bỉnh Khiêm bỏ qua 9 kỳ đại khoa (trong đó có  6 khoa thi dưới triều Lê sơ). Ngay cả khi nhà Mạc lên thay nhà Lê sơ (1527), xã hội dần đi  vào ổn định nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không vội vã ra ứng thí (ông không tham dự 2

khoa thi đầu tiên dưới triều Mạc). Tới năm Đại Chính thứ sáu (1535) đời Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh) thịnh trị vương đạo nhất triều Mạc (1527-1592), ông quyết định đi thi và đậu ngay Trạng Nguyên. Năm ấy ông đã 45 tuổi. được bổ nhiệm làm Đông Các hiệu thư rồi  sau giữ nhiều chức vụ khác nhau như Tả Thị Lang Bộ Hình, Tả Thị Lang Bộ Lại kiêm Đông Các Đại Học làm quan được 8 năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần vua không  nghe. Ông cáo quan năm 1542 về vườn, lập Bạch Vân Am và hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy học cạnh sông Hàn Giang còn có tên Tuyết Gian các môn sinh tôn ông là “Tuyết Giang phu tử”. môn sinh của ông có nhiều người hiển đạt sau này như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Trương Thời Cử, Đinh Thời Trung, Hàn Giang cư sĩ Nguyễn Văn Chính (con trai cả của ông)…thơ Trạng Trình với triết lý của Thái Ất là nguồn tri thức hữu thể, về đời sống nhân sinh với càn khôn trong vũ trụ .Thái Ất còn gọi là Lý Thiên, Lý Địa và Lý Nhân

 

Ngư ông bất ngộ Ðào Nguyên khách

Khởi thức hưng vong thế cổ kim

Nhàn trung hoa thảo túc Cung xuân

Tà dương độc lập đô vô sự 

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

 Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao…

 

Dù Nguyễn Bỉnh Khiên không còn làm quan nhưng vua Mạc Phúc Hải phong cho ông tước Trình Nguyên Hầu vào năm Giáp thìn (1544), ngụ ý đề cao ông có công khơi nguồn ngành lý học, sau đó được thăng chức Thượng Thư Bộ Lại tước hiệu Trình  Quốc Công. Từ đó người  đời gọi ông là Trạng Trình.

Nhờ học phương pháp tính theo Thái Ất  tiên đoán được biến cố  trước và sau 500 năm. Người Trung Hoa khen Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “An Nam lý học hữu Trình Tuyền”

. Tục truyền rằng Năm Bính ngọ (1546) Mạc Phúc Hải mất truyền ngôi  lại cho con Mạc Phúc Nguyên mãi đến năm mậu thân (1548) vua Trang Tông mất, Trịnh  Kiểm lập Thái tử tên Duy Huyên lên ngôi  tức Trung Tông được 8 năm thì mất không có con nối nghiệp. Trịnh Kiểm muốn làm vua nhưng còn sợ dư luận, nên sai người đến Hải Dương hỏi ý khiến Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. ông không chỉ bảo người giúp việc ngụ ý: “năm

nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ, gữi chùa thờ Phật thì ăn oản

 “  Sau đó Trịnh Kiểm tìm con cháu họ Lê lên làm vua Dù Trạng Trình  ở ẩn, vua Mạc cũng như các chúa Trịnh,chúa Nguyễn có việc hệ trọng vẫn  cho người đến hỏi ý ông. Ông thường kín đáo khuyên Vua cố gắng tránh chiến tranh để nhân  dân khỏi chết chóc. Trong năm Quang Thiêu (Lê Chiêu Tôn) có việc biến loạn, Nguyễn Bỉnh Khiêm không muốn tiếng tăm với đời lúc bấy giờ Trịnh Tuy, Mạc Ðăng Dung cũng cố ý

muốn tranh quyền, đánh nhau mấy năm dài

. Ông tính số Thái Ất, biết nhà Lê lại khôi phục được Và làm bài thơ

:

Non sông nào phải buổi bình thời

Thú đánh nhau chi khéo nực cười

Cá vực, chim rừng, ai khiến đuổỉ

Núi xương sông tuyết, thảm đầy vơi

Ngựa phi chắc có hồi quay cổ (1)

Thú dữ nên phòng lúc cắn người (2)

Ngán ngẫm việc đời chi nói nữa

Bên đầm say hát, nhởn nhơ chơi

 

Sau khi nhà Lê bị Mạc Đăng Dung (1483-1541) chiếm ngôi, con của vị tướng triều Lê là Nguyễn Hoàng Dụ trốn sang Lào, được vua Lào cho nương náu ở xứ Cẩm Châu, trấn Nam  Phủ,tỉnh Thanh Hóa Năm Quý Tỵ (1532) Nguyễn Kim lập con út vua Chiêu Tông lên làm vua, gọi là Trang Tông. Để mưu đồ đại sự, Nguyễn Kim (1467- 1545) thu nạp kiện tướng ở tỉnh Thanh Hóa là Trịnh Kiểm, sau là rể của Nguyễn Kim. Năm Canh Tý (1540), Nguyễn Kim đem quân đánh chiếm Nghệ An và thu phục luôn cả Thanh Hóa  Nhưng bỗng dưng  Nguyễn Kim chết vì ngộ độc (1545), mọi bình quyền về tay Trịnh Kiểm. Việt Nam lúc bấy  giờ bị chia đôi: từ Sơn Nam trở ra thuộc nhà Mạc, gọi là Bắc Triều. Từ Thanh Hóa trở vào là

khu vực của nhà Lê hay gọi là Nam Triều.  Nguyễn Kim mất, để lại hai người con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng (1525-1613) cả  hai tuy còn ít tuổi nhưng đã bộc lộ tài năng xuất sắc hơn người. Trịnh Kiểm

lo sợ cả hai sau  này có thể tranh giành địa vị với mình, nên ngấm ngầm ngăn trở dù Nguyễn Uông chỉ mắc một lỗi nhỏ, Trịnh Kiểm cũng buộc Nguyễn Uông phải chịu phép gia hình. Nguyễn Hoàng thấy anh bị hại, sợ đến lượt mình, liền cử người kín đáo lên hỏi Trạng Trình. Trạng không trả lời cụ thể, chỉ đứng ngắm đàn kiến bò trên hòn non bộ trước sân nhà và nói một câu: Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân

.Nghĩa là từ núi đèo ngang ở Quảng Bình kia có thể yên thân được muôn đời. Từ câu nói đó, Nguyễn Hoàng nghiệm ra rằng trạng Trình bày cho kế đi vào phương Nam  lập nghiệp.

Từ năm 1558 Nguyễn Hoàng vội vàng đến nói riêng với chị là bà Ngọc Bảo xin Trịnh Kiểm cho vào trấn phiá Nam, năm  Mậu ngọ (1558) đời vua Anh Tông Trịnh Kiểm tâu vua cho Nguyễn  Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa , phía Nam dãy Hoành Sơn. Nhờ thế mà lập  nên cơ nghiệp của họ Nguyễn ở Đàng Trong, truyền nối lâu dài.

    Nguyễn Hoàng là người khôn ngoan, có lòng nhân đức thu dụng hào kiệt giúp dân cho nên  được lòng dân kính phục. Trấn giữ đất Thuận Hóa, mở đầu cho triều đình nhà Nguyễn từ từ  khai phá cho đến vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày nay. Ngoài ra rất nhiều lời sấm được  lưu truyền qua dân gian nhiều lời bàn diễn giải khác nhau  như câu:

  ” Cẩu vĩ trư đầu, xuất  thánh nhân  ” ứng nghiệm vào việc vua Gia Long lên ngôi từ (1802-1819) thống nhất sơn hà  vào năm  Nhâm tuất ngày 02 – 05- 1802. trải qua 13 triều đại. Hoàng đế cuối cùng Bảo Ðại trị vì từ 1929 và thoái vị năm 1945. Tương truyền Trạng Trình nói trước nhà Mạc suy vong,ông đọc hai câu thơ:

  “Cao Bằng tàng – tam đại tồn cô ” (nghĩa rằng rút về đất Cao Bằng thì sẽ sống thêm được ba đời nữa) con  cháu họ Mạc về đất Cao bằng tuy nhỏ nhưng được 3 đời là Mạc Kính Cung, Mạc Kinh Khoan và Mạc Kinh Vũ.  Dòng dõi họ Mạc bị bắt, bị giết nhiều người đổi họ lưu lạc khắp nơi để mưu  cầu sự sống

.                 Trạng Trình có 3 người vợ  và 12 người con  (7 trai 5 gái) các con trai đều có chức tước sau  nầy.  Ông  mất  ngày  28  tháng  11  năm  Đinh dậu, niên hiệu Diên Thành thứ 8 nhà  Mạc (1585) hưởng thọ 94 tuổi.Theo sử sách Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có  công lớn đối với triều đình nhà Mạc nên sau

khi mất (1585) vua Mạc Mậu Hợp ứng cử  Ứng  Vương  Mạc  Đôn  Nhượng,  phụ  chính  triều đình làm khâm sai cùng với văn võ bá  quan về dự lễ tang. Tháng Giêng năm sau  (1586),  vua  Mạc  ban  cho  làng  Trung  Am  3.000 quan tiền để lập đền thờ ông và cấp 100 mẫu  ruộng để lấy hoa lợi dùng vào việc thờ cúng. Đền thờ được dựng trên nền Giảng học – Am Bạch Vân và tự tay nhà vua đề biển  ngạch:  “Mạc Triều Trạng Nguyên Tể Tướng Từ” (Đền thờ Tể tướng Trạng nguyên Triều  Mạc). Trải qua những biến cố  lịch sử

ngôi đền được trùng tu, xây dựng lại nhiều lần vào các  năm: Vĩnh Hựu nguyên niên (Ất Mão 1735, đời vua Lê Ý Tông); Minh Mạng thập tứ (1833).  Ngôi đền hiện nay được dựng lại vào năm Mậu Thìn (1928) đời vua Bảo Đại. Đến năm 1985, nhân  kỷ niệm 400 năm ngày mất của ông, một lần nữa đền lại được trùng tu làm  thêm  nhà  khách, hồ nước, cổng đền, tường bao, đường vào đền…

        Trước khi qua đời , Trạng trình có ghi vào gia phả và dặn con cháu rằng: Bình sinh ta có tấm bia đá sẵn và đã sơn kia. Khi ta mất rồi, hễ hạ quan tài xuống phải để tấm bia đá ấy lên nắp rồi lấp đất. Chờ khi nào có khách tới viếng mộ và nói rằng: “Thánh nhân mắt mù” thì phải lập tức  mời người ấy vào nhà, yêu cầu họ đổi hướng lại ngôi mộ cho ta. Nếu trái lời ta, dòng dõi về  sau sẽ suy đồi lụn bại đấy  Con cháu nghe lời, làm y như đã dặn. Nhưng chờ mãi đến năm  mươi năm sau, mới có người khách đến nhìn mộ cụ một lúc rồi nói: Cái huyệt ở đằng chân sờ  sờ thế kia mà không biết, lại tự đem để mả thế này. Vậy mà thánh nhân gì chớ, hoạ chăng là  thánh nhân mắt  mù.

     Người trong họ nghe được, chạy về báo với trưởng tộc. Ông này vội vàng  ra đón người khách Tàu kia về nhà, xin để xoay ngôi mộ kia lại. Ra đó là một nhà phong thuỷ  (Feng Shui) trứ danh ở phương Bắc. Ông ta sang là để đi tìm xem di tích của Trạng, bấy lâu  ông ta đã nghe tiếng đồn. Khi nghe vị trưởng tộc nói, ông ta sẵn lòng làm ngay, và tự đắc cho  rằng mình giỏi hơn Trạng Trình. Ông ta bảo:  Không cần phải đem đi đâu xa cả, chỉ đào lên  rồi xoay lại, nhích đi một chút  là được. Ông trưởng tộc bèn tụ họp con cháu lại, đưa thầy địa lý Tàu ra đổi lại ngôi mộ. Lúc đào đến tấm bia đá, ông ta làm lạ bảo đem rửa sạch xem những  gì trên đó. Khi tấm bia được rửa sạch, mới thấy mấy câu thơ hiện ra tạm dịch nghĩa:

          Ngày nay mạch lộn xuống chân

          Năm mươi năm trước mạch dâng đằng đầu.

          Biết gì những kẻ sinh sau?

         Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ?

   Đọc tới đâu vị khách Tàu phải khâm phục Trạng Trình mà ông ta nghe đồn là giỏi thật.

    Năm 1930 Việt Nam Quốc Dân Ðảng lãnh tụ Nguyễn Thái Học (1901- 1930) lãnh đạo cuộc tổng khởi  nghiã ngày 10.2.1930 đánh Tây ở các tỉnh: Yên Bái, Hưng Hóa , Lâm Thao, Hải Dương,  Kiến An. Thất bại bị Pháp điên cuồng ném bom tàn phá làng Bảo An để trả thù.  Có lời đồn Trạng Trình đã tiên đoán:

           Kìa kìa gió thổi lá rung cây

           Rung Bắc rung Nam rung tới Tây

          Tan tác  kiến kiều an đất nước

           Xác xơ cổ thụ sạch am cây

           Lâm  giang nổi gió mù Thao cát

           Hưng địa tràn dâng  hóa nước đầy

           Một ngựa một Yên ai sùng  bái

           Nhắn tin nhà  Vĩnh Bảo  cho hay „

       Thoát nạn sập nhà Trạng Trình giao cho con cháu một ống tre sơn son thếp vàng, bịt kín hai đầu, và dặn đúng năm tháng ấy, ngày giờ ấy, phải để cái ống ấy vào kiệu rước lên dinh Thống đốc Hải Dương,

trao cái ống này cho quan thì sẽ cứu được tình thế gia đình. Khi Trạng mất, hằng trăm năm  sau, con cháu Trạng lâm vào cảnh đói  nghèo, sa sút, nhưng tuyệt đối không được mở ống ra  xem trước thời hạn. Trạng còn dặn kỹ trừ quan Tổng đốc ra, không ai được mở ống, vì thế  ống vẫn giữ nguyên vẹn. Trải qua bảy đời, cái ống tre ấy mới được rước lên dinh quan Tổng  đốc, đúng ngày giờ đã ghi  trong gia phả. Đang nằm nghỉ, nghe tin con cháu cụ Trạng mang  thư đến gặp, quan Tổng đốc rất ngạc nhiên, không biết vì cớ gì, nên truyền cho vào, đồng thời  quan ngồi dậy để đi ra cửa. Quan Tổng đốc vừa bước khỏi giường nằm được mấy bước thì bỗng rầm một cái, chiếc sà nhà  không biết bị mọt ăn hỏng từ bao giờ, rơi ngay xuống chỗ giường vừa nằm. Thật là một phen  hú vía! Nếu ông không kịp ngồi dậy nhận thư Trạng, thì mạng ông đã khó mà sinh tồn. Quan Tổng đốc mở ống tre ra xem, thấy bên trong có một cuộn giấy, đề hai câu thơ:

              Ngã giải nhĩ thượng lương chi ách,

              Nhĩ cứu ngã tử tôn chi bần

    Nghiã là

              Cứu người thoát nạn đổ nhà,

             Ngươi nên cứu cháu con ta khỏi nghèo

  Chưa hết kinh hoàng vì chuyện chiếc sà nhà vừa rơi xuống, ông thoát nạn nhờ ra lấy lá thư. Quan Tổng  đốc biết rằng Trạng Trình cứu ông thoát chết, nên ông ta ân cần mời cháu Trạng  Trình về tư thất đãi hậu hỹ, sau đó đưa ra rất nhiều tiền giúp khỏi cảnh nghèo đói

.                                                                                                  Theo sưu tầm lịch sử