THÔNG BÁO


    Xuian moi copy.jpg  Năm cũ đã qua, năm mới - 2019  lại tới, những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. theo thời gian lùi dần về quá khứ

   Đảng ta, nhân dân ta đang tập trung quyết liệt chống tham nhũng, và cải cách hành chính nhằm làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.    

     Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất tích cực ....

Đén với bài thơ Tựu trường " Đại học sư phạm Hà Nội' của giáo sư Nguyễn Khắc Phi
22-05-2019
Dai hoc su pham.jpgXin được giới thiệu

KÍNH TẶNG CỰU SINH VIÊN KHÓA 1, KHÓA 2  CỦA KHOA VĂN

        ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI II 

                                                    G.S. Nguyễn Khắc Phi

                      2

.

嵿 滿

    放花!

( : ?)

                 

Kính tặng Hà Nội  Nhị  hiệu Sư Đại Văn khoa  Đệ Nhất Đệ Nhị khoá Cựu sinh viên

Tứ thập niên tiền sáng thử Khoa

Định đô viễn xứ tại Xuân Hoà.

Nam thanh nữ tú quần anh hội

Sư  xướng đệ tuỳ mô phạm ca

Sơn đính kỉ hồi khan mãn nguyệt

Hồ biên lũ thứ động thu ba

Đương thời nhập học thân tâm tráng

Trì tục chí kim hoàn phóng hoa!

          (Dị bản: Thế sự thăng trầm kim nhược hà?)

 Dịch nghĩa

Bốn  mươi năm về trước Khoa này được sáng lập

Định đô hẳn nơi Xuân Hoà xa xôi!

Nam thanh nữ tú như quần anh hội

Thầy trò hòa nhịp cất lên  bài ca “mô phạm”.

Trên đỉnh núi, mấy lần ngắm ánh trăng tròn

Ven hồ, bao nhiêu lượt làm xao động làn sóng thu!

Lúc bấy giờ mới nhập học, thân thể tinh thần còn tráng kiện

Giữ mãi tới nay vẫn còn trổ hoa!

              (Dị bản: Thế sự thăng trầm nay ra sao rồi?

                                                Hà Nội – 2015

                                        Giáo sư Nguyễn Khắc Phi

LỜI BÌNH

       Là người đã đọc không ít bài thơ viết về nhà trường, về tình thầy trò và cuộc sống, tôi ấn tượng sâu sắc  với bài thơ “Kính tặng cựu sinh viên khóa 1, khóa 2 Khoa Văn  Đại học sư phạm Hà Nội II” của G.S. Nguyễn  Khắc Phi,  một “bậc thầy khả kính về học thuật và luôn bao dung, tận tụy với học trò”. Bài thơ đã tái hiện chân thực, cảm động những kỷ niệm về Trường, về Khoa Văn, đặc biệt là cuộc sống tâm hồn, tình cảm của thầy trò những năm tháng tuổi hoa niên một đi không trở lại.

     Bài thơ được tác giả trân trọng  lấy tựa  đề  “Kính tặng cựu sinh viên…” mặc dù Thầy đã từng trực tiếp giảng dạy chúng tôi hơn bốn mươi năm trước. Nguyên việc này đã  toát lên đức độ khiêm cung đáng nể ở thầy. Bài thơ chữ Hán này sáng tác theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Thơ Đường có quy định nghiêm ngặt về ngôn từ, niêm luật, âm vận và đối ngẫu. Làm thơ Đường tiếng Việt đã khó, bằng chữ Hán càng khó hơn rất nhiều. Vậy mà, vút lên từ thi phẩm là những lời thơ dung dị nói lên được bao kỷ niệm đẹp gắn bó với  Khoa Văn và ngôi trường Đại học Sư phạm vừa mới được thành lập, những tình cảm gắn bó sâu sắc với học trò ở thời tuổi trẻ . Hai câu đề của bài thơ giới thiệu  khái quát và cụ thể sự ra đời của Khoa Ngữ Văn:  “Tứ thập niên tiền sáng thử Khoa/ Định đô viễn xứ tại Xuân Hoà  (Bốn  mươi năm về trước Khoa này được sáng lập / Định đô hẳn nơi Xuân Hoà xa xôi!). Nhiều người  biết  trước 1975, vùng Xuân Hòa (huyện Mê Linh –Vĩnh Phúc) chỉ là khu đồi núi còn hoang sơ, dân cư thưa thớt. Đúng thời điểm này, trường Đại học Sư phạm (ĐHSP)  Hà Nội II có quyết định thành lập. Hai năm liên tiếp 1975 và 1976, trường Đại học Sư phạm Hà Nội I không nhập học cho  sinh viên mới ở một số khoa (Văn, Toán, Lý, Địa), đưa toàn bộ số vừa trúng tuyển lên học tại Trường Sư phạm II (cách gọi tắt ), còn thiếu nhiều thứ tại thị trấn Xuân Hòa. Lưu ý là nói về sự thành lập, tác giả không dùng từ “lập” mà dùng chữ “sáng” bởi đây đúng là một sự kiện vô cùng có ý nghĩa của ngành giáo dục. Cách nói “định đô”  mang tinh chất ngoa dụ và trào lộng, cũng là để làm sang, nói đẹp cho Trường, cho Khoa. Trường  ở nơi “viễn xứ” nghĩa là đóng trú ở nơi xa. Nhiều người đều biết, Xuân Hòa tuy chỉ cách Hà Nội bốn chục cây số, nhưng bấy giờ còn cách trở đò giang, đâu có xe nhiều loại thuận tiện như bây giờ. (Nghe nói bấy giờ, có những cán bộ, nhân viên ở ĐHSP Hà Nội I được phân công lên Trường công tác, đã tìm  mọi cách từ chối). Phần  thực  nói cụ thể đối tượng về học tại Khoa Văn hồi ấy:Nam thanh nữ tú quần anh hội / Sư  xướng đệ tuỳ mô phạm ca. (Nam thanh nữ tú như quần anh hội / Thầy trò hòa nhịp cất lên  bài ca “mô phạm”). Trường ra đời vào thời điểm đất nước ta vừa được thống nhất nên đã  hội tụ được những tinh hoa của cả ba tầng lớp về học: số bộ đội trẻ vừa rời quân ngũ khát khao học tập, một bộ phận giáo viên dạy giỏi ở cấp II (Trung học cơ sở ngày nay) được phòng giáo dục quận huyện cửa các tỉnh thành cử về trường học để ra trường sẽ dạy học sinh chuyển cấp; đông nhất là những học sinh ưu tú được tuyển chọn khách quan từ các trường phổ thông trên toàn miền Bắc. Vậy nên “lứa sinh viên đầu đàn” nơi đây tuyển chọn  được nhiều bạn trẻ không những  yêu nghề dạy học mà còn thông minh, nhiều vốn sống thực tế. Xin nói thêm là khoảng cách tuổi tác giữa nam và nữ “rất đẹp”, nghĩa là cách nhau thường là 3- 5 tuổi. Nhiều người tìm được “một nửa của mình” trong số bạn đồng môn và đã thành đôi lứa  tại  nơi đây.  Riêng Khoa Văn khóa  I  chúng  tôi đã có hơn mười đôi nên vợ, nên chồng, họ sống bên nhau đến nay vẫn rất hạnh phúc. Sống và học tập, rèn luyện tại nơi “viễn xứ” này, điều vất vả  nhất đối với các thầy cô giáo – đặc biệt các thầy cô cao niên – cả sinh viên chúng tôi nữa, là đi lại cách trở, vì phương tiện chủ yếu là xe đạp nên buộc phải qua bến đò Châu Phan hay Bến phà Chèm, làm gì có cầu tiện ích như  bây giờ để sang bên kia sông Hồng,  Chưa kể nhiều đợt mưa úng lụt, thầy trò bì bõm lội nước, vượt quãng đường đất trơn, lầy bẩn đến mấy cây số mới tới được trường. Cảnh tượng các thầy cô đội cặp sách lên đầu, trong đầy những giáo trình và tư liệu vượt đường trơn đến lớp dạy học khiến chúng tôi vừa thương, vừa quý phục vô cùng! Chính trong khó khăn như vậy, tình thầy trò và bạn hữu càng thêm gắn bó, bền chặt. Tuy sinh hoạt nhiều thứ  đều thiếu, bữa ăn của  thầy và trò  nhiêu khi chỉ có “canh toàn quốc”, phòng ở chật chội… nhưng bù lại, chúng tôi được hầu hết các thầy cô dạn dày kinh nghiệm, giỏi về chuyên môn ở trường Sư phạm I lên giảng dạy. Các thầy rất thương và quan tâm tới sinh viên,  không ít lần đến ký túc xá thăm nơi ăn ở của trò. Các thầy phát động phong trào nào, giao nhiệm vụ gì, học trò chúng tôi đều hưởng ứng nhiệt tình: ngoài chương trình nội khóa lên lớp học tập, các hoạt động ngoại khóa như cắm trại, đi thực tế, tham quan các Di tích lịch sử và quê hương danh nhân… kể cả việc nhận cấy lúa, chăm sóc, làm cỏ, tát nước, thu hoạch  mấy sào ruộng của Hợp tác xã Yên Mỹ gần đó, chúng tôi đều làm được và làm tốt.“Sư xướng đệ tuỳ” quả là cách nói hàm súc, quen thuộc nêu lên được sự nhất trí cao độ giữa thầy và trò. Thầy cô luôn xác định phương châm hành động cho sinh viên hồi ấy là: Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo để trở thành con người vừa hồng (có đức) vừa chuyên (có tài), trở thành  tấm gương sáng sau này cho học trò. “Mô phạm” có nghĩa là mẫu, là tấm gương chuẩn mực để mọi người noi theo. Đây là  từ  ngữ mà Chủ tịch  Hồ Chí Minh khi đến thăm trường ĐHSP Hà Nội I đã phát biểu về hướng phấn đấu chung của các trường Sư Phạm. Lời dạy đó của Bác đã khích lệ  thầy  trò cùng cố gắng  rất nhiều trong mọi hoạt động và thực tế cả Trường và Khoa đều đạt được nhiều thành tích xứng đáng trong những năm tháng “thuở  ban đầu lưu luyến ấy”. Chính nhờ đó, nhiều bạn ra trường về sau đã rất thành đạt. Riêng khóa I Khoa Văn có:TS Trần Lê Bảo, người chiến sĩ ở mặt trận Lào năm xưa, nghiên cứu sinh đầu tiên của chính thầy Phi, nay đã trở thành Phó Giáo sư kỳ cựu, đã hướng dẫn thành công trên Mười luận án Tiến sĩ; Nguyễn Văn Tuấn là giảng viên ĐHSư phạm II, nay là Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam; Nguyễn Khắc Hào, Giám đốc Sở Giáo dục, sau  làm Phó Chủ tịch tỉnh Hưng Yên; PGS TS, Giảng viên cao cấp Nguyễn Toàn Thắng, nay là Giám đốc viện Văn hóa và phát triển Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh… Khóa II có bạn Vũ Tuyết Nhung, đỗ tốt nghiệp thủ khoa,  làm Trưởng ban Văn hoá – Xã hội của Đài PT TH Hà Nội;  Nguyễn Đăng Điệp làm Viện trưởng Viện Văn họcTrong bài thơ,theo tôi, những câu  phần luận là hay nhất bởi tràn đầy cảm hứng trữ tình lãng mạn khi hoài  niệm về một thời  đáng nhớ. Điều thú vị không chỉ với tác giả - cũng như  thầy cô giáo khác và lứa học trò chúng tôi, là được dạy và học ở một môi trường thiên nhiên đồi núi thoáng rộng, đẹp đẽ. Núi Thằn Lằn, hồ Đại Lải với những quả đồi nối nhau trùng điệp thời đó còn  hoang sơ, nay đã là thắng cảnh du lịch nổi tiếng. Vào đêm trăng sáng hay những hôm mất điện – điều này diễn ra thường xuyên – nhiều người thường rủ nhau lên đồi hóng gió, ngắm trăng, ngày cuối tuần thi thoảng đi pic – nic, chiều và tối, ra ven hồ tâm sự và…tình tự. Hoá ra không gì thoát ra khỏi thị dã của người thầy có tâm hồn tế nhị và tấm lòng bao dung thông cảm. Những câu thơ  của thầy giáo Nguyễn Khắc Phi quả đã tái hiện lại sống động vẻ đẹp của cảnh và người: “Sơn đính kỉ hồi khan mãn nguyệt / Hồ biên lũ thứ động thu ba” (Trên đỉnh núi, mấy lần ngắm ánh trăng tròn / Ven hồ, bao nhiêu lượt làm xao động làn sóng thu). Tác giả đã sử dụng rất khéo léo lối “Tỉnh lược đại từ”. Dùng phép tỉnh lược chủ ngữ, mỗi câu trong  phần luận đều có hai ba cách cảm nhận. “Sơn đỉnh kỷ hồi khan mãn nguyệt” có thể hiểu là “Đỉnh núi bao lần ngắm ánh trăng tròn”. Lại có thể hiểu cách khác nữa là “Trên đỉnh núi, các cặp sinh viên (tỉnh lược) đã bao lần ngắm trăng tròn”. Chưa nói, ánh trăng tròn, ánh trăng rằm ( “mãn nguyệt”) là ẩn dụ của mọi sự thành công, viên mãn, đoàn tụ. Câu tiếp theo có lẽ lại còn sinh động hơn.Ở “ hồ biên” - ven hồ, bao lần sóng  xao động dưới những làn gió thu hay chính là sự rung động của những trái tim các đôi lứa đang tình tứ dưới ánh trăng cạnh hồ làm cho sóng thu xao động ? Chưa nói, làn sóng thu (“thu ba”) còn là biểu tượng của “cặp mắt của người đep”. Tha hồ mà liên tưởng! Thiên nhiên thơ mộng, trăng tròn ở độ viên mãn nhất, nước hồ xao động, nam thanh nữ tú đang độ xuân sắc ngời ngời. Cả hai vẻ đẹp cảnh và người cộng hưởng, lan tỏa càng làm tăng thêm vẻ đẹp cho nhau. Đó là những kỷ niệm đẹp thật khó phai mờ, nhất là được ghi dấu ở thời điểm “Đương thời nhập học thân tâm tráng” (Lúc bấy giờ mới nhập học, thân thể tinh thần còn tráng kiện). Và giờ đây, bốn mươi năm sau, tinh thần và thân thể  tráng kiện ấy như vẫn còn đầy sức sống: “Trì tục chí kim hoàn phóng hoa!” (Giữ mãi tới nay và vẫn còn trổ hoa!). Hồn thơ ở đây thật phóng khoáng, tươi trẻ, như truyền cảm hứng tới mọi người tình yêu tha thiết đối với cuộc đời, với những kỷ niệm một thời để nhớ, “không phải hổ thẹn vì những năm tháng sống hoài, sống phí”. Khác với những bài thơ Đường luật khác, bài thơ đã kết thúc, thầy còn tự viết thêm một dị bản cho câu cuối, nếu bỏ qua là một thiếu sót: Thế sự thăng trầm kim nhược hà?“ (Thế sự thăng trầm nay ra sao rồi?). Câu thơ đượm những ưu tư, trăn trở của tác giả - người đã ở tuần thượng thọ – nhưng vẫn thương lớp học trò cũ có những sinh viên xưa học giỏi và tài hoa mà cuộc sống lại gặp nhiều trắc trở, sóng gió. Tấm lòng ưu ái đó của người thầy càng tỏa sáng hơn nữa giá trị nhân văn sâu sắc của bài thơ. Sức hấp dẫn của thi phẩm một phần không chỉ ở nội dung phong phú, ngôn từ hàm súc, hình ảnh giàu sức gợi mà còn ở kết cấu bài rất chặt chẽ. Hai câu đề nói chuyện thành lập trường. Hai câu thực nói tới chủ thể và nhiệm vụ. Phần luận nói rộng ra khoảng trời sinh hoạt riêng tư - những kỷ niệm đẹp đáng nhớ. Phần kết gắn quá khứ và hiện tại đồng thời bày tỏ niềm vui sướng, tự hào và cả niềm ưu tư của tác giả. “Không ai được tắm nước hai lần của một dòng sông”. Những tháng ngày sống, dạy và học tuy gian khổ nhưng ngập tràn niềm vui bởi tình người hòa hợp và chan chứa yêu thương, bởi tuổi trẻ trôi qua một đi không trở lại mãi khắc sâu trong tâm hồn không chỉ của tác giả mà còn với hàng ngàn học trò. Đáng lưu ý về luật thơ Đường ở đây, thi phẩm đã theo lệ "bất luận" ở chữ thứ năm "" , "hoàn" và “kim” , nhờ đó bài thơ tự nhiên hơn, bớt đi sự gò bó. Không am tường sâu sắc về thơ Đường, tác giả khó có thể “điều khiển đội binh chữ nghĩa” nhẹ nhàng như thế.

Bài thơ  làm sống lại những kỷ niệm sâu đậm “một thời để nhớ” cùng với tình thầy nghĩa  trò sâu nặng khó quên. Trân trọng cảm ơn tác giả, thầy giáo  Nguyễn Khắc Phi, người có hơn sáu mươi  năm gắn bó với sự nghiệp trồng người, đã dành rất nhiều tâm huyết và trí lực  đào tạo nên bao thế hệ học trò thành đạt hôm nay./

Thạc sĩ – Nhà giáo Nguyễn Thị Thiện

   Thạch Thất . 2019. 

 

Tác giả BBT