THÔNG BÁO


    Xuian moi copy.jpg  Năm cũ đã qua, năm mới - 2019  lại tới, những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. theo thời gian lùi dần về quá khứ

   Đảng ta, nhân dân ta đang tập trung quyết liệt chống tham nhũng, và cải cách hành chính nhằm làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.    

     Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất tích cực ....

HỒ CHÍ MINH, BẬC THẦY VỀ THƠ LUẬT ĐƯỜNG
15-05-2019

261524.gifKỷ niệm 129 năm Ngày sình Chủ tịch Hồ Chi Minh xin giới thiệu bài viết của T/S Đinh Nho Hồng  để chúng ta cùng nghiên cứu.

HỒ CHÍ MINH, BẬC THẦY VỀ THƠ LUẬT ĐƯỜNG

 

Cũng như nhân dân Việt Nam, thế giới nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh như một nhà chính trị, một nhà quân sự, một nhà ngoại giao lỗi lạc, một nhà tư tưởng vĩ đại, một tấm gương đạo đức trong sáng. Nhân loại đã tôn vinh Hồ Chí Minh là Danh nhân Văn hóa Thế giới, nhớ đến Người như một nhà thơ tầm cỡ. Có thể nói, không những ở Việt Nam, mà nhiều học giả Trung Quốc cũng công nhận Hồ Chí Minh là một bậc tao nhân kiệt xuất về thơ luật Đường.

Trong bài viết này, cùng với việc thưởng thức một số bài thơ của Hồ Chủ tịch, chúng tôi muốn bàn thêm về nghệ thuật sáng tác thơ phá cáchthơ biến thể luật Đường của Bác.

Một trong những tác phẩm văn học của thế kỷ 20 được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất và được đánh giá rất cao trên thế giới, kể cả ở Trung Quốc, là "Nhật ký trong tù" (Ngục trung nhật ký - 獄中日記) của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhà ngôn ngữ học bậc nhất thế kỷ 20 của Trung Quốc, đồng thời cũng là một nhà văn, nhà thơ nổi tiếng là Quách Mạt Nhược đã đánh giá rằng, nhiều bài trong "Ngục trung nhật ký" có thể sánh ngang hàng những bài thơ Đường hay nhất. Nói đến "Thơ Đường", tức là nói đến trào lưu nở rộ sáng tác thơ dưới thời nhà Đường (618 - 907) bên Trung Hoa, dù có viết đúng niêm luật hay không, với những tao nhân muôn đời nổi tiếng như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên, Thôi Hiệu, v.v.

Một vị Giáo sư đã nhận xét, đại ý như sau: Thơ Đường bên Trung Hoa như ở trên trời, còn thơ Hồ Chí Minh là cuộc sống trên mặt đất của chúng ta.

Đúng là chúng ta được thưởng thức nhiều bài thơ Đường rất hay, bay bổng trên mây trên gió của nhiều thi nhân nổi tiếng bên Trung Hoa. Thậm chí khi say, nhà thơ Lý Bạch thấy bóng trăng dưới nước đã nhảy xuống sông để ôm chị Hằng.

Còn thơ của Hồ Chí Minh là cuộc sống, chiến đấu trong lao tù, đấu tranh giải phóng và xây dựng non sông đất nước.

Ngay bốn câu ngoài bìa cuốn "Ngục trung nhật ký" cũng là một bài ngũ ngôn tứ tuyệt không theo niêm luật thơ Đường, có thể coi là thơ phá cách.

Phần lớn các bài trong "Nhật ký trong tù" là thơ phá cách, cũng có thể coi là thơ cổ phong, với bút pháp như thơ Tùy - Đường bên Trung Hoa, không tuân theo thể thơ cách luật. Nhiều bài khác được sáng tác đúng niêm luật, nhưng rất phóng khoáng, với bút pháp hiện đại. Ta hãy thưởng thức bài "Đáo Quế Lâm" sau đây:

                        ĐÁO QUẾ LÂM

Quế Lâm vô quế diệc vô lâm,

Chỉ kiến sơn cao dữ thủy thâm
Dung ấm giam phòng chân khả phạ,
Bạch thiên hắc hắc, dạ trầm trầm.
Chỉ thấy núi cao và sông sâu;
Cây đa rủ bóng xuống buồng giam, thực đáng sợ,
Ban ngày sầm tối, ban đêm im lìm.

Dịch nghĩa:

ĐẾN QUẾ LÂM

Quế Lâm không quế cũng không rừng,

Ngoài những bài trong "Nhật ký trong tù", Bác đã sáng tác nhiều bài thơ theo thể luật Đường. Chúng ta nhớ mãi bài thất ngôn tứ tuyệt Bác viết đầu xuân Mậu Thân - 1968 để chúc Tết và cũng là tiếng kèn xung trận, là lời hiệu triệu đồng bào ta tổng tiến công và nổi dậy ở Miền Nam, đồng thời đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

Thắng trận tin vui khắp nước nhà

Nam Bắc thi đua đánh giặcMỹ

Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta.

Tinh thần lạc quan Cách mạng luôn được thể hiện trong thơ Hồ Chủ tịch và Người cũng là một nhà thơ trữ tình với tư tưởng nhân văn sâu sắc. Trong thơ Bác, suối sông, rừng núi cũng có hồn và hòa đồng với hồn thơ thi sĩ. Ví dụ:

CẢNH KHUYA

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Tương tự, bài thất ngôn bát cú "Cảnh rừng Việt Bắc" và nhiều bài rất nổi tiếng khác luôn được các nhà bình phẩm nhắc đến.

Hồ Chủ tịch quan niệm nhà thơ là chiến sĩ, ngòi bút là vũ khí. Dưới ngòi bút của Người, nhiều bài thơ trở thành vũ khí vô cùng sắc bén, lợi hại. Lịch sử còn ghi nhớ bài thơ Bác họa thơ Nguyễn Hải Thần. Sau Cách mạng thang Tám, ông này đã theo gót quân Tàu Tưởng về Việt Nam, được Bác mời giữ trọng chức trong Chính phủ Dân Chủ Cộng hòa non trẻ. Dựa vào thế lực nước ngoài, Nguyễn Hải Thần không giấu giếm tham vọng chính trị, mong được chia sẻ quyền lực. Nhưng khi quân Tưởng rút đi, ông ta lại chuồn về Trung Quốc. Thế mà với lời lẽ hợm hĩnh, còn muốn "dạy đời", Nguyễn Hải Thần đã gửi đến cụ Hồ một bài thơ, tỏ ra ta đây là một tay sành  sỏi, chịu "thua nửa ngựa", nhưng vẫn không giấu nổi sự yếu hèn, bi quan, bỏ cuộc giữa đường. Bài xướng của Nguyễn Hải Thần gửi cụ Hồ như sau:

Gai góc đường đời ông với tôi

Hai vai gánh vác sẻ làm đôi

Cùng chung Nam Bắc chung bờ cõi

Cũng một ông cha một giống nòi

Đành chịu nước cờ thua nửa ngựa

Còn hơn miệng thế chế mười voi

Mấy lời nhắn nhủ ông ghi nhớ

Nước ngược buông câu phải lựa mồi.

Hồ Chủ tịch nắm rõ tâm địa Nguyễn Hải Thần. Bài họa sau đây của Bác mang tính bút chiến, vừa nêu cao khí phách của người Cách mạng, vừa vạch trần bộ mặt cơ hội, hèn nhát của Nguyễn Hải Thần và cũng dạy cho ông ta biết thế nào là kết cục của một ván cờ, chỉ rõ tham vọng cũng như số phận chính trị của ông ta chỉ như con cá trước mồi câu:

Ông biết đường ông, tôi biết tôi

Quyết giành thắng lợi, chẳng chia đôi

Cũng sinh tai mắt sinh đầu óc

Nỡ bỏ ông cha bỏ giống nòi

Ông trót sa chân vào miệng cọp

Tôi đành ghé đít cưỡi đầu voi

Cờ tàn mới biết tay cao thấp

Há phải như ai cá thấy mồi.

Cho đến nay, nhiều người vẫn thuộc lòng bài họa nổi tiếng này của Bác. Nhưng có thể, do qua nhiều thế hệ truyền cho nhau bằng những con đường khác nhau, nên có một số câu, chữ không thống nhất. Tuy nhiên, ý thơ là nhất quán. Một điều dễ nhận thấy là sự phá cách luật chơi xướng họa trong bài thơ trên: Bác đã lặp lại từ áp vận trong câu thứ tư. Với trình độ thơ Đường siêu việt, Bác có thể không dùng lại từ "giống nòi" của bài xướng. Chẳng hạn, Bác có thể dùng cụm từ "kẻ lạc nòi" thay cho "bỏ giống nòi" và chữa câu 3 để cho hai câu thực đối nhau. Nhưng cụm từ "bỏ giống nòi" ở đây thật là sắc bén, vạch đúng bản chất của Nguyễn Hải Thần. Thơ của Bác rất uyên thâm, sâu sắc, kể cả thơ Quốc ngữ và chữ Hán. Chúng ta vẫn biết, trình độ chiết tự chữ Hán của Bác khó ai bì kịp. Bác là một bậc thầy của các thầy thơ luật Đường. Thơ của Bác không công thức sáo rỗng. Bác trọng tứ thơ, chất thơ, không quá gò bó như một số người làm thơ luật Đường, chỉ lo xếp chữ sao cho đúng luật, để nhà thơ Lưu Trọng Lư chế diễu thơ Đường là "Nắn nót miễn sao nên bốn vế...". Chính vì vậy mà nhiều khi Bác vẫn sáng tác những bài thơ phá cách.

Bác cũng sáng tác thơ biến thể. Bài "Pác Bó hùng vĩ" mang dáng dấp những bài thơ mà nhiều người gọi là "Thơ Hàn luật". Thời trước, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông,...thường sáng tác dạng thơ này, nhưng thơ của Bác mang phong cách hiện đại, tự tin và lại rất mượt mà:

PÁC BÓ HÙNG VĨ

Non xa xa, nước xa xa

Nào phải thênh thang mới gọi là

Đây suối Lê Nin, kìa núi Mác

Hai tay xây dựng một sơn hà.

Không thể kể hết những bài thơ hay, tuyệt tác cùng với phép chơi thơ phá cách, biến thể sắc bén, độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một bậc thầy về thơ luật Đường.

TS Đinh Nho Hồng

Chủ tịch Chi hội TĐL Nguyễn Trãi

Tác giả BBT