THÔNG BÁO

Choa nam moi.jpg    Năm cũ đã qua, năm mới - 2018 lại tới, những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. theo thời gian lùi dần về quá khứ

Đảng ta , nhân dân ta đang tập trung quyết liệt chống tham nhũng, và cải cách hành chính nhằm làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn    

     Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất tích cực ....

 

Bài thơ trên cửu đỉnh
01-11-2018
 HO NUOC hONG lINH.2.jpgHồng Lĩnh

BÀI THƠ TRÊN CỬU ĐỈNH *

                                                        

 

Hồng Lĩnh hình thế hùng vĩ, có nhiều danh thắng được xếp vào một trong 

chín cảnh đẹp của đất nước. Năm Minh Mệnh thứ 17 khắc tượng vào “Anh đỉnh”,

đặt trong Hoàng Thành Huế. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), khi ngự giá Bắc tuần, 

nhà Vua đề thơ vịnh “Hồng Lĩnh” cho khắc vào bia đá đặt dưới chân Ngàn Hống.

 Năm Tự Đức thứ 3, xếp núi Hồng Lĩnh là danh sơn Hà Tĩnh và ghi vào điển thờ.

       Bài thơ nguyên tác như sau:

THo chu Han.jpg 

Phiên âm

HỒNG LĨNH

 

Cửu thập cửu phong thứ đệ bài,

Tằng tằng trĩ lập vọng thôi ngôi.

Triền già Hương Tích kim do tại,

Cơ chỉ Trang Vương sự dĩ  hôi.

Dã Hạc tương truyền thê đỉnh thượng,

Chinh Hồng phản vị trước danh lai.

Sầm khâm điệp chướng liên thiên bích,

Bán lĩnh vân phong, bán lĩnh khai.

 

 (Thiệu Trị,Nhị niên,Thập nhị nguyệt,

 Cát nhật, Ngự chế thi nhất thủ)

Dịch nghĩa

:    HỒNG LĨNH

 

Chín mươi chín đỉnh được thứ tự sắp bày.

Lớp lớp núi đứng xa nhìn sừng sững như những bức trường thành.

Chùa chiền Hương Tích nay vẫn còn đó,

Nền móng Trang Vương đã hóa thành tro bụi.

Hạc nội tương truyền bay về đây đậu đỉnh non cao.

Những cánh chim Hồng cũng bay trở lại ở nơi này,

Núi non trùng điệp bạt ngàn xanh nối liền với trời xanh.

Nửa núi mây che, nửa núi thanh lãng.

    (Ngày lành tháng 12, năm Thiệu Trị thứ 2. Thơ Ngự chế một bài)

Dịch thơ                                      

:     HỒNG LĨNH

 

Chín chín non cao tạo hóa bày,

Trông xa sừng sững tựa thành xây.

Chùa chiền Hương Tích nay còn đó,

Nền móng Trang Vương đã khói bay.

Chim Hạc về đây tìm đỉnh đậu,

Cánh Hồng trở lại ở nơi này.

Rừng xanh một giải liền trời biếc,

Nửa núi sáng trong, nửa núi mây.

 (Ngày lành, tháng 12, năm Thiệu Trị thứ 2. Thơ Ngự chế một bài)

    Bùi Chí Thành –PCT Chi hội Đức Thọ Hà Tĩnh

                         Sưu tầm và Dịch thơ

   p/s  *  Cửu đỉnh của nhà Nguyễn ( tiếng Hán: 阮朝九鼎) là chín cái đỉnh bằng đồng, đặt ở trước sân Thế miếu trong Hoàng thành Huế. Cửu Đỉnh được vua Minh Mạng ra lệnh đúc vào mùa đông năm 1835 và khánh thành vào ngày 1 tháng 3 năm 1837.

     Với chức năng là trọng khí đặt ở trước sân tông miếu của nhà Nguyễn, là báu vật tượng trưng cho đế nghiệp muôn đời vững bền của triều Nguyễn, tên gọi của mỗi đỉnh mang hàm ý của Minh Mạng là thụy hiệu của các vua triều Nguyễn. Cao đỉnh chính là thụy hiệu của Nguyễn Thế Tổ Cao Hoàng đế - Gia Long, Nhân đỉnh là thụy hiệu của chính vua Minh Mạng, Chương đỉnh là thụy hiệu của vua Thiệu Trị, Anh đỉnh là thụy hiệu của vua Tự Đức, Nghị đỉnh là thụy hiệu vua Kiến Phúc, Thuần đình là thụy hiệu của vua Đồng Khánh, Tuyên đỉnh là thụy hiệu của vua Khải Định. Các vua Dục Đức, Hiệp Hòa bị Tôn Thất Thuyết phế truất và giết chết ; vua Hàm Nghi lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp; hai cha con vua Thành Thái, Duy Tân bị Pháp phế truất và lưu đày ; vua Bảo Đại thoái vị...đều không được đặt tên miếu hiệu và thụy hiệu. Do đó, tên của Dụ đỉnh và Huyền đỉnh không trở thành thụy hiệu của bất kì vị vua nào triều Nguyễn. Từ CAO ĐỈNH đến HUYỀN ĐỈNH trong hệ thống thế thứ lịch đại, mỗi thế hệ tượng trưng cho một đức tính tốt : CAO (高), tức người khởi dựng, tượng trưng cho sự vĩ đại; NHÂN ( ) là lòng tốt, tượng trưng đức, CHƯƠNG (彰)là sự gương mẫu, là ánh sáng, ANH (英) là tài giỏi, vinh hạnh, hiển đạt; NGHỊ (毅) là ý chí kiên cường, cương nghị; THUẦN (純) là sự hoàn thiện, phong phú; TUYÊN (宣) là sự hài hòa, tinh thông; DỤ (裕) là nền tảng sự thịnh vượng và HUYỀN (玄) ứng với nơi sâu thẳm.

       Cửu Đỉnh gắn liền với con số 9, một con số thiêng liêng theo quan niệm phương Đông, tượng trưng cho Trời, cho sự hoàn thiện tuyệt đối, cho quyền uy và sức mạnh của người đứng đầu thiên hạ. Dễ hiểu tại sao số 9 là tư tưởng chủ đạo vua Minh Mạng trong việc đúc Cửu Đỉnh cho triều đại mình : tất cả các loại cảnh vật đều được chọn lọc và sắp xếp theo số 9. 9 vì tinh tú và hiện tượng thiên nhiên trong vũ trụ là Mặt Trời, Mặt Trăng, Gió, Sét, Mây, Mưa, Ngũ tinh, Bắc Đẩu, Nam Đẩu ; 9 ngọn núi lớn là Thiên Tôn, Ngự Bình, Thương Sơn, Hồng Lĩnh, Tản Viên, Duệ Sơn, Đại Lãnh, Hải Vân, Đèo Ngang ; 9 sông lớn là Bến Nghé, sông Hương, sông Gianh, sông Mã, sông Lô, Bạch Đằng, Thạch Hãn, sông Lam, sông Hồng ; 9 con sông đào và sông khác là kênh Vĩnh Tế, sông Vĩnh Điện, sông Lợi Nông, sông Vệ, sông Phổ Lợi, sông Thao, sông Cửu An, sông Ngân Hà. Rồi 9 loài chim, 9 loài cây lương thực, 9 loại rau củ, 9 loài hoa, 9 loại cây lấy quả, 9 loại dược liệu quý, 9 loại cây thân gỗ, 9 loại vũ khí chiến trận, 9 loại thuyền bè, xe cộ, cờ. Tất cả những số 9 ấy hòa quyện với nhau tạo nên một bức tranh thiên nhiên sông núi đất trời Việt Nam hoành tráng. Biểu tượng cho sự giàu đẹp thống nhất đất nước!

       Như vậy, Anh đỉnh là đỉnh thứ 4, trong hệ thống cửu đỉnh ứng với thụy hiệu của vua Tự Đức với nghĩa là: Tài giỏi, nổi tiếng, vinh hạnh, hiển đạt. Trên Anh đỉnh khắc ngọn núi lớn Hồng Lĩnh là một trong 9 cảnh đẹp của đất nước! (Trên mỗi đỉnh được khắc một ngọn núi lớn – Anh đỉnh khắc ngọn Hồng Lĩnh). Hồng Lĩnh xứng danh là một vùng địa linh, nhân kiệt mà vua Triệu Trị đã ngợi ca trong bài thơ vịnh “Hồng Lĩnh”./.

* Tài liệu tham khảo:

-          Đại Nam nhất thống chí (Nhiều tác giả)

-          Lịch triều hiến chương loại chí (Phan huy chú)

-          Hoan châu phong thổ ký (Trần Danh Lâm)

-         Văn bia đề thơ vua Thiệu Trị.

                 

 

Tác giả BBT