THÔNG BÁO

Choa nam moi.jpg    Năm cũ đã qua, năm mới - 2018 lại tới, những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. theo thời gian lùi dần về quá khứ

Đảng ta , nhân dân ta đang tập trung quyết liệt chống tham nhũng, và cải cách hành chính nhằm làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn    

     Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất tích cực ....

 

Đến với Bài thơ Công Làng của Bùi Ân
10-03-2018
Cong lang.jpgBài viết của Nhà giáo Nguyễn Thị Thiện

CỔNG LÀNG    - Bùi Văn Ân

 

Cổng làng ơi hỡi, cổng làng ơi!

Đây thuở thơ ngây chốn dạo chơi

Nơi bố lên đường con vẫy gọi

Chốn bà về chợ cháu tươi cười.

Rủi may số phận bao nhiêu kiếp

Ngọt nhạt cơ duyên biết mấy đời

Một cõi đi về muôn thuở ấy

Cổng làng đưa đón những buồn vui!

LỜI BÌNH                         

Trong thời đại Công nghệ thông tin 4.0 như hiện nay, nhịp điệu sống lúc nào cũng hối hả, gấp gáp khiến người ta ít quan tâm đến những gì xưa cũ. Chính vì thế, bài thơ thất ngôn bát cú luật Đường “Cổng làng” của tác giả Bùi Văn Ân (Phú Thọ) đã tạo cho tôi ấn tượng khó quên.

Bài thơ là lời sẻ chia, đồng cảm, là thái độ trân trọng  đối với cổng làng – chứng nhân bao  nỗi buồn vui của mọi kiếp người nơi làng quê.  Ngay nhan đề của bài đã trực tiếp nói tới “Cổng làng”. Vốn ra đời từ rất sớm, cổng làng gắn liền với sự hình thành, phát triển và thể hiện chiều sâu văn hóa của  làng. Thời trước, ở những vùng quê châu thổ Bắc bộ, làng tương đối khép kín, chỉ  có một hoặc hai lối ra vào được xây dựng công phu, hầu hết theo kiểu  mái vòm  có gác mái gọi là cổng làng, Cổng đó được quy định là giới hạn của làng giữa nơi thổ cư và khu thổ canh. Vào mỗi buổi mờ sáng, cổng làng được mở, dân làng đổ  ra đồng làm việc, đến  tối lặn mặt trời, sau khi người dân về  hết thì cổng làng đóng lại, Lâu dần, cổng làng không chỉ phân địa giới mà trở thành biểu tượng văn hoá của mỗi làng quê  cùng với cây đa, bến nước, mái đình. Mỗi cổng làng thường chạm khắc câu đối và trang trí khác nhau với những lời lẽ và ý tứ nhắn gửi con cháu mai sau giữ gìn phát huy truyền thông quê hương. Chính điều đó tạo nên nét văn hóa riêng tùy theo đặc điểm nghề nghiệp của mỗi làng. Kiến trúc cổng làng xưa không cầu kỳ, phô trương mà chỉ nhằm khẳng định chỗ đứng của địa phương ấy  trong khoảng không gian của làng quê vùng đồng bằng Bắc bộ, Trung bộ. Vì thế,  cổng làng luôn có vị trí quan trọng trong đời sống thực và trong tâm thức  người Việt. Bài thơ trên  gồm hai phần khá rõ rệt: Bốn câu đầu là nỗi niềm tâm sự cùng cổng làng, bốn câu còn lại là niềm suy tư của tác giả.  Ngay câu phá đề  bài thơ, bằng nghệ thật nhân hóa, tác giả đã thổi hồn vào cảnh khiến  cổng làng thành nhân vật trữ tình. Tác giả cất tiếng gọiCổng làng ơi hỡi, cổng làng ơi!” thể hiện  một  thái độ trìu mến, thân thiết.  Ở những câu thừa đề và phần thực, tác giả muốn lý giải nguyên do thái độ mến yêu mến của mình với cổng làng là bởi: “Đây thuở thơ ngây chốn dạo chơi / Nơi bố lên đường con vẫy gọi / Chốn bà về chợ cháu tươi cười”. Chỉ vài ba câu thơ, tác giả gợi  ra biết bao kỷ niệm đáng nhớ  của cả mấy đời trong mỗi hộ gia đình: từ con đến bố, cả bà lẫn cháu, mỗi  thế hệ đều gắn bó mật thiết với cổng làng một cách riêng  trong  sinh hoạt thường ngày. Trẻ em nông thôn trước đây, những buổi trưa  là thời điểm tuyệt vời để các cậu bé, cô bé túm năm tụm ba chơi say sưa các trò chơi dân gian như:  rải gianh, ô ăn quan, đánh bi, đánh đáo, trốn tìm  ở xung quanh hay trên các gác mái cổng làng. Mỗi người dân Việt, dường như ai cũng có một miền ký ức lung linh về chiếc cổng làng với những kỷ niệm một đi không trở lại thời thơ ấu như thế. Không chỉ là chốn vui chơi của con trẻ, cổng làng còn là nơi tiễn đưa bao lớp trai tráng anh dũng lên đường đi chiến đấu, “ngực dám đón những phong ba dữ dội”. Tiễn đưa các anh không chỉ có vợ trẻ, mẹ già mà còn có cả đứa con thơ vẫy gọi, mong chờ từng ngày các anh trở về. Cũng từ  cổng làng, những đứa trẻ hồn nhiên chờ bà, chờ mẹ đi chợ về qua để được nhận quà  chỉ là“ bánh đa bánh đúc”, hay tấm mía, cái kẹo, bình dị thôi nhưng đó là bữa tiệc tinh thần sảng khoái cho cả nhóm, khiến mỗi bé được nhận quà đều miệng tươi như hoa nở. Hai câu thơ phần thực này  đối nhau rất  cân chỉnh, gợi mở  sâu sắc thêm ý  thơ:  chính từ cổng làng  cùng với dòng chảy của  thời gian, sự gắn kết  cộng đồng và gia tộc ngày càng thêm khăng khít,  bền chặt.  Bốn câu cuối của bài  thể hiện  chiều sâu  suy tư  của tác giả: cổng làng đúng  là nơi chứng kiến những thăng trầm của cuộc đời mỗi con người cùng với sự rủi may của biết bao số kiếp, thân  phận:Rủi may số phận bao nhiêu kiếp/ Ngọt nhạt cơ duyên biết mấy đời ”. Giọng điệu phần thơ này chuyển  sang  trầm buồn,  hợp với cảm xúc thơ. Cổng làng không chỉ tiễn đưa mọi người con của làng đi làm đồng ,  đi  khởi nghiệp hay  làm ăn nơi xa, cổng làng còn là nơi đưa tiễn, giã biệt những  ai đã đi trọn kiếp người, giờ đây về nơi yên nghỉ cuối cùng trên đồng đất quê hương, trên nghĩa trang đất mẹ. Bài thơ khép lại bằng những câu có sức khái quát mang tính qui luật:“Một cõi đi về muôn thuở ấy/ Cổng làng đưa đón những buồn vui”.

      Bài thơ vần điệu,, từ ngữ tuy chưa ở đỉnh điểm, nhưng bài thơ “Cổng làng”  quả là nơi vừa gần gũi vừa thiêng liêng, không chỉ chứng kiến những rủi may cuộc đời mỗi con người mà còn là chứng nhân  thăng trầm của cả ngôi làng, nơi đưa đón những buồn vui của mọi kiếp người trong thế cuộc nhân sinh ở  một vùng quê.  Đằng sau ý thơ này, dường như tác giả muốn nhắn gửi lớp người sau: Trong bộn bề cuộc sống hiện đại thời nay, cổng làng  là biểu tượng  hồn quê đất Việt, hãy chung tay tôn tạo cổng làng,  giữ gìn cổng làng cũng là bảo vệ  bản sắc văn hóa làng, cội nguồn bản sắc văn hóa dân tộc và quê hương xứ sở./.

 

NGUYỄN THỊ THIỆN

ĐC: Căn hộ 12B03, tòa R6 khu Rolyal City, 72 Nguyễn Trãi,

Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội

 

 

 

 

Tác giả BBT