THÔNG BÁO

Chuc nam moi.jpgChào năm mới ! 2017
      Năm 2016 đã qua đi theo thời gian và những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ XII  đã thành công rất, rất tốt đẹp, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước. Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất nổi trội....
Hội thảo" Thơ Đường luật Việt Nam trong dòng văn học yêu nước và cách mạng nửa đầu thế kỷ XX đã thành công tốt đẹp
17-11-2017
GS Khac Phi T ket. F.jpgGiáo sư Nguyễn Khắc Phi Tổng kết Hội thảo

Tổng kết Hội thảo khoa học

               THƠ ĐƯỜNG LUẬT VIỆT NAM

          TRONG DÒNG VĂN HỌC YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG

                                                              NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

 (Do Hội Thơ Đường luật Việt Nam thuộc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc cùng Viện Văn hoá và Phát triển thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức)

         Tính từ năm 2014, đây là Hội thảo khoa học lần thứ 3 do Hội thơ Đường luật Việt Nam thuộc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và Phát huy văn hoá dân tộc chủ trì tổ chức, sau Hội thảo “ Bác Hồ với Thơ Đường luật Việt Nam” tổ chức tại Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh và Hội thảo “ Tú Xương với Thơ Đường luật” tổ chức tại Nam Định, quê hương của nhà thơ. Lần này, chủ đề của Hội thảo được mở rộng hơn, đề cập đến Thơ Đường luật của cả một giai đoạn lịch sử văn học dài nửa thế kỷ, hơn thế, nửa thế kỷ đầy biến động, không phải riêng một con người mà của cả một dân tộc, nói rộng hơn là cả thế giới.

I.Đánh giá chung về các đề tài Hội thảo

   Nội dung đề tài có thể được đề cập hiển nhiên nhưng rất phong phú, đa dạng. Chủ đề Hội thảo có  “mở rộng” nhưng không phải không có giới hạn vì 3 cụm từ “Thơ Đường luật Việt Nam”, “trong dòng  yêu nước và cách mạng” và “nửa đầu thế kỷ XX” đã minh định.Tất nhiên, cũng như mọi sự vật khác, ở lĩnh vực văn học cũng có hiện tượng trung gian, quá độ. Nếu nói “một số bài thơ Đường luật của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết sau 1945 thời kháng chiến chống Pháp có thể coi là vĩ thanh của thơ Đường luật trong Ngục trung nhật ký” (Nguyễn Đình Chú), thì ta cũng có thể coi những bài thơ Đường luật thấm đẫm tinh thần yêu nước thiết tha và tinh thần phê phán mãnh liệt cuối thế kỷ XIX là khúc tiền tấu của dòng thơ Đường luật yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX. Ở đây, chưa đề cập đến hiện tượng có không ít nhà thơ đã sống qua 2 thế kỷ, nói cụ thể hơn là qua đời vào đầu thế kỷ XX, như Phan Văn Trị, Trần Tế Xương, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Học Lạc, Từ Diễn Đồng, Nguyễn Hàm…Xác định nội dung “cách mạng” thì không phức tạp, nhưng xác định ranh giới giữa “yêu nước” và “cách mạng” lại không đơn giản, đặc biệt là xác định biểu hiện của lòng yêu nước qua văn bản, qua nội dung, ý nghĩa của tác phẩm, đôi khi không hề dễ dàng  như đối với trường hợp của Tản Đà, Trần Tuấn Khải, Sương Nguyệt Anh, với cả nữ sĩ Ngân Giang - nhà thơ nữ làm thơ Đường luật vào loại nhiều nhất của Việt Nam, người đã có bức tranh thêu một bài thơ Đường luật tặng Hồ Chủ tịch… Về thể tài Thơ Đường luật cũng vậy, với hầu hết thơ của các  “nhà nho – chiến sĩ” (khái niệm GS, Nguyễn Đình Chú đề nghị sử dụng bên cạnh khái niệm chỉ 3 loại hình nhà nho xưa là “nhà nho nhập thế”, “nhà nho ẩn dật” và “nhà nho tài tử”), thì gần như không cần đặt vấn đề này ra. Hầu hết các báo cáo thống nhất khẳng định, tất cả đều tuân thủ nghiêm ngặt niêm luật thơ Đường. Nhưng với Ngục trung nhật ký thì không đơn giản thế. Trong Hội thảo trước, một số báo cáo đã đặt ra vấn đề này vì bên cạnh những bài viết theo đúng niêm luật, lại có những bài, theo yêu cầu biểu đạt nội dung, Bác Hồ đã phá cách khá nhiều và khá mạnh dạn, tới mức có thể xem đó là thơ cổ thể hay nửa cổ nửa luật. Trong Hội thảo này, còn có một vấn đề đặt ra nữa về thể tài là mối quan hệ giữa Thơ mới và Thơ Đường luật. Báo cáo của tác giả Dương Xuân Tấn đã nêu lên một vài bài thơ Đường luật (mà phần lớn là Tuyệt cú) đầu tay rất hay của Tố Hữu song phần lớn chỉ là những khổ 4 câu nằm trong một bài thơ dài, lại không phải là thất ngôn bát cú nên anh gọi là ‘Thất ngôn tứ tuyệt tràng thiên”. Gọi như vậy không phải là không có cơ sở song chưa thật ổn vì đã là “tứ tuyệt” sao lại gọi là “tràng thiên” ? Phải chăng có thể gọi là Tuyệt cú liên hoàn? Dẫu vậy, thực tế này cũng đặt ra một vấn đề có tính chất lý luận rất đáng suy ngẫm: Trong phong trào Thơ mới, có những bài thơ dài và rất hay gồm toàn những khổ 4 câu và tất cả đều viết đúng theo công thức của Thơ Đường luật như một số bài thơ đầu tay của Tố Hữu, nhiều bài thơ của Huy Cận, Xuân Diệu, của Ngân Giang, Tản Đà... Có người thống kê, trong tất cả các bài Thơ mới đưa vào SGK Ngữ văn CCGD, ở những bài có cấu trúc như vậy, xét theo công thức thơ Đường luật, chỉ có một câu thơ “thất niêm” trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử! Đây là một vấn đề phải giải quyết trước khi thống kê số lượng thơ Đường luật hiện đại ( nếu muốn thống kê cả thơ tuyệt cú Đường luật), ít nhất cũng là để làm minh chứng cho ảnh hưởng về một mặt nào đấy về thể thơ của Thơ Đường luật đối với Thơ Mới.

    Nếu xét một cách chặt chẽ theo 3 tiêu chí đã nêu trên, không ít báo cáo (kể cả báo cáo chưa in vào kỷ yếu), đã có những điểm “việt vị” vì đề cập quá nhiều tới thơ cuối thế kỷ XIX, dẫn ra cả những bài khó chứng minh là thể hiện tinh thần yêu nước và cách mạng hoặc không ít thơ lục bát. Có chỗ ban tuyển chọn mạnh dạn lược bớt, nhưng cũng có lúc đành giữ nguyên vì đôi lúc thấy đó là những tư liệu quý cần cung cấp cho hội viên để sau này làm ngữ liệu khi cần thiết. Dĩ nhiên, cũng với những ngữ liệu nói trên, nếu lược bớt, rồi tìm tòi suy nghĩ thêm, nhất là gắn với hoàn cảnh thời đại, với “văn cảnh sáng tác”, với tâm lý tiếp nhận của độc giả thì vẫn có thể chỉ ra niềm yêu nước thương nòi sâu kín, ít ra cũng có thể dùng để làm nối bật mép viền cho 3 đường giới hạn nói trên của Hội thảo.

II.Những nội dung lớn được đề cập

      Ban tổ chức đã nhận được 57 báo cáo. Mặc dầu không in được tất cả vào kỷ yếu, nhưng Hội vẫn lưu giữ tất cả một cách trân trọng và xem đó là hồ sơ quý giá. Dưới đây, xin điểm một số nét lớn thể hiện qua các báo cáo đã được in vào kỷ yếu.

     1.Đề tài báo cáo rất đa dạng: có 9 báo cáo mang tính chất khái quát, đề cập đến tình hình chung của Thơ Đường luật trong dòng thơ yêu nước và cách mạng của Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX như báo cáo của các tác giả Hoài Yên, Trần Bửu Lâm, Nguyễn Đình Chú, Lê Đình Sơn, Lê Trọng Hồng, Trần Châu Hoàn, Trần Hạnh Nguyên, Nguyễn Quang Chính, Đức Thọ ; cũng có 9 báo cáo chuyên về một tác giả như về Hồ Chí Minh (Bùi Ngọc Hồng),về Huỳnh Thúc Kháng (Phạm Thị Xuân Châu), về Tố Hữu (Dương Xuân Tấn), về Phan Bội Châu (Lê Hồng Việt Tuấn), về Trần Huy Liệu (Nguyễn Hữu Sơn), về Nguyễn Thượng Hiền (Trần Thị Băng Thanh), về Tản Đà (Võ Quang Huy), về Ngân Giang (Lê Thị Bích Hồng), về Nguyễn Quang Diêu (Lê Ngọc Thạc); có báo cáo đề cập đến riêng về thơ Đường luật của các chiến sĩ cộng sản như báo cáo của Võ Giáp, Hoàng Trọng Hiếu, về thơ Đường luật của các tác giả dân tộc Tày ở Cao Bằng của Triệu Thị Kiều Dung; có báo cáo chỉ bàn sâu vào một tác phẩm như về Nhắn bạn của Hoàng Văn Thụ (Nguyễn Thị Thiện), về Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu (Nguyễn Thị Bích Hải, Bùi Chí Thành).

    Trong Hội thảo này, chỉ có một báo cáo về thơ Hồ Chủ tịch vì chúng ta vừa tổ chức Hội thảo chuyên đề về Thơ Đường luật của Người và Kỷ yếu Hội thảo đó đã được in thành sách. Hai tác phẩm được phân tích và bình luận nhiều nhất là Đập đá ở Côn Lôn của Phan Châu Trinh và Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu. Qua Hội thảo, chúng ta còn được tiếp xúc với một số bài thơ Đường luật thể hiện lòng yêu nước sâu lắng được lồng trong văn bản Tuồng của các chí sĩ Đào Tấn, Tống Phước Phổ do báo cáo Đề dẫn Hội thảo của GS. Hoàng Chương cung cấp. Sự việc này gợi ý cho chúng ta một hướng mới trong việc sưu tầm, nghiên cứu và đánh giá thơ Đường luật.

       2.Các báo cáo của Hội thảo đã bước đầu giải quyết được một số yêu cầu cơ bản do mỗi  đề tài đặt ra và qua đó đặt ra khá nhiều vấn đề có ý nghĩa chung.

 

     2a.  Đã phác thảo được một bức tranh sinh động cũng như vận mệnh thăng trầm trong nửa thế kỉ đầy biến động của Thơ Đường luật, một thể thơ, mặc dầu có nguồn gốc ngoại lai, vì đã được dân tộc Việt Nam tiếp biến và Việt hoá một cách sáng tạo trên hơn một nghìn năm nên thực sự đã trở thành tài sản quý báu của dân tộc. Các báo cáo đã chỉ ra, trên đại thể, giai đoạn nửa thế kỷ này có thể chia ra thành 2 chặng đường: từ đầu thế kỷ đến trước sau những năm 30 và từ trước sau những năm 30 đến giữa thế kỷ. Trong chặng đường thứ nhất, số lượng tác phẩm viết theo thể Đường luật nhiều hơn, tác giả xuất thân nhà nho -  những nhà nho chí sĩ hoặc những nhà nho đã tiếp thu được tư tưởng khoa học và dân chủ của các nước phương Tây và tinh thần tự cường, cải cách của Nhật Bản - chiếm địa vị chủ yếu trên thi đàn; trong chặng đường thứ hai, chủ yếu là từ 1930 đến 1945, thời kỳ nền văn học dân tộc có sự phát triển gia tốc, giữa rất nhiều trào lưu văn học mới, dễ hiểu là số người làm thơ Đường luật ít hơn nhưng xuất thân lại đa dạng hơn, không khí sáng tác thơ Đường luật tuy giảm sút song không bao giờ đứt đoạn và  trong mạch  phát triển ấy, vẫn nổi lên những nhà thơ yêu nước với nhiều xu hướng, giọng điệu, viết được nhiều bài thơ Đường luật hay như Ngân Giang, Tản Đà, Trần Tuấn Khải, Huỳnh Thúc Kháng…  và đặc biệt là những tác phẩm thấm đượm tinh thần cách mạng, tinh thần đấu tranh bất khuất trong những tình huống cực kỳ hiểm nghèo của các chiến sĩ cộng sản mà đỉnh cao là những bài thơ Đường luật trong Nhật ký trong tù của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

2b.Các báo cáo đã chỉ ra những biểu hiện cụ thể của sự tiếp biến đầy sáng tạo trên các mặt nội dung cũng như nghệ thuật, thi pháp của thể thơ cổ điển ấy trong  hoàn cảnh lịch sử đặc thù của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ thứ XX và phân tích cơ sở xã hội, những tiền đề đặt nền móng tạo nên sự tiếp biến sáng tạo đó. Đó là truyền thống ưu tú, lâu đời của thơ Đường luật Việt Nam xuất hiện ngay từ những bài thơ đầu tiên như Quốc tộ của thiền sư Pháp Thuận, Nam Quốc sơn hà tương truyền của Lý Thường Kiệt, những tác phẩm có thể coi như những bản Tuyên ngôn Hoà bình và Tuyên ngôn Độc lập; đó là bệ phóng của những bài thơ Đường luật tuyệt tác chứa đầy hào khí dân tộc của các chí sĩ yêu nước cuối thế kỷ XIX- những năm đầu thế kỷ XX như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Phan Đình Phùng, Nguyễn Quang Bích, Tống Duy Tân, Nguyễn Hữu Huân, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Thông, Trần Cao Vân…Ngay từ cuối thế kỷ XIX và những năm đầu của thế kỷ XX, rất nhiều chí sĩ đã bị thực dân Pháp đày đi Côn Đảo và đã viết nên những vần thơ cực kỳ hào sảng, thể hiện tinh thần bất khuất  và niềm tin lạc quan ở tương lai đất nước.

    Các báo cáo đã chỉ rõ, bên cạnh việc tiếp thu truyền thống thơ ca yêu nước, thơ Đường luật chịu ảnh hưởng trực tiếp, sâu xa của phong trào đấu tranh giành độc lập anh dũng  của dân tộc qua từng chặng đường với những xu hướng khác nhau, từ phong trào Cần Vương, Đông Kinh nghĩa thục, Đông Du, Duy Tân đến Xô Viết Nghệ Tĩnh, với bao nhiêu cuộc vận động, biểu tình, khởi nghĩa lớn nhỏ.

     2c.Dựa trên truyền thống văn học tốt đẹp, được phong trào cổ vũ là những điều kiện rất quan trọng, song vai trò của chủ thể sáng tạo – cá nhân nhà thơ vẫn là yếu tố quyết định. Các báo cáo đã chỉ rõ, phần lớn các nhà thơ viết thơ Đường luật là những thành phần tinh hoa của xã hội. Họ là những người có tầm văn hoá cao, phổ kiến thức rộng, tư tưởng cấp tiến, tình cảm mãnh liệt. Họ cũng là những người hiểu sâu sắc ý nghĩa của văn thơ, biết rõ văn thơ không chỉ có chức năng “ngôn chí”, “trữ tình” mà còn có tác dụng chia sẻ cảm thông, cổ vũ tập hợp, đấu tranh phê phán. Tư tưởng tình cảm yêu nước và cách mạng của họ không chỉ thể hiện một cách hào hùng quyết liệt ở những giây phút gay cấn nhất trong cuộc đấu tranh sinh tử song cũng bộc lộ một cách tự nhiên mà nhạy bén, tinh tế trong mọi quan hệ đời thường (với bố mẹ, anh em, vợ con, người yêu), trước thắng cảnh của đất nước quê hương, trước gương sáng của danh nhân trong sử sách…,thậm chí trước những sự việc tưởng như không thể gợi nên cảm xúc gì:

                                 “…Tháng Một đứng trên đầu tháng Chạp,

                                      Ngày Nam nằm dưới đít ngày Tây.

                                      Chỉ trên bức giấy mà như thế,

                                      Chi lọ giang sơn mới nỗi này!”

                                                  (Tạ ơn người tặng lịch. Phan Bội Châu)

Quả đúng như văn hào Lỗ Tấn nói: “Từ mạch đất tuôn ra đều là nước; Từ huyết quản chảy ra đều là máu”.

    Có một điểm cần lưu ý: những phong trào đấu tranh của nhân dân ta từ đầu thế kỷ đến khoảng 1925, tuy rất anh dũng nhưng rốt cuộc đều đi đến bế tắc hoặc thất bại, cho nên không ít bài thơ Đường luật biểu hiện tâm trạng thường đẫm màu sắc u  uất, thậm chí buồn đau. Việc đối chiếu số lượng, nội dung cũng như giọng điệu thơ Đường luật của hai tác giả tiêu biểu ở chặng đường thứ nhất (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh) trước và sau khi thất bại hoặc bị tù đày là rất có ý nghĩa. GS. Nguyễn Đình Chú cho rằng hiện tượng này xác nhận một quy luật mà người xưa đã nêu: “bất bình tắc minh”, và một quan niệm: “Thi dĩ bi vi mỹ”. Có thể nêu lên tâm trạng đau buồn đó ở 2 câu kết của bài thơ Cảm tác của Nguyễn Đức Công (Hoàng Trọng Mậu) trước ngày bị đưa ra pháp trường xử bắn ở sân bay Bạch Mai:

                                      Tòng kim hoá tác đề quyên khứ,

                                      Đái huyết Nam hồi điếu cố viên

             (Từ nay hoá làm con chim quốc, Ngậm máu đi về khóc quê cũ).

Chúng tôi cho rằng nói vậy không phải là không có lý nhưng hình như chưa thật đầy đủ đối với chính 2 nhà thơ đã nêu, vì cái “bi” ở họ luôn bao hàm  cái “tráng”; kể cả trong những vần thơ “ bộc lộ tâm trạng bi thương, u hoài, có những lúc tỏ ra vô vọng” của Nguyễn Thượng Hiền trong những ngày cuối đời vào chùa đi tu nơi xa xứ, người ta vẫn thấy “cái chí giết giặc cứu nước ban sơ của ông vẫn không thay đổi.” (Trần Thị Băng Thanh).  Dĩ nhiên, nêu lên điều đó cũng rất có ý nghĩa nếu ta đem đối chiếu những bài thơ này với những bài thơ Đường luật của những người chiến sĩ cộng sản sống trong cảnh tù đày hay những giây phút sắp đi ra pháp trường như bài Nhắn bạn của Hoàng Văn Thụ. Như đã nói trên, ngay từ thế kỷ trước, các nhà thơ chí sĩ đã thể hiện tinh thần bất khuất trong cảnh tù đày; những chiến sĩ cộng sản đã tiếp thu, nâng cao tinh thần ấy, hơn thế, còn biến nó thành tổ chức hành động cụ thể của cả tập thể tù nhân. Báo cáo của Võ Giáp đã cung cấp một tư liệu thú vị: Ở ngục Kon Tum, ngay khi địch vừa xây xong nhà tù, các chiến sĩ cộng sản đã thành lập “Ngục thất Tao Đàn” (Hội thơ trong tù). Khi địch sát hại 8 tù nhân, Tao Đàn đã tổ chức cuộc thi thơ về sự kiện này. Kết quả, giải Nhất thuộc về Trịnh Quang Xuân, người Can Lộc – Hà Tĩnh, giải Nhì thuộc về Hồ Tùng Mậu, người Quỳnh Lưu - Nghệ An.

    Như vậy, sự tồn tại của một dòng thơ Đường luật yêu nước và cách mạng trong nửa đầu thế kỷ XX là một hiện tượng tất yếu, hợp quy luật.  Nhiều tác giả thơ Đường luật trong giai đoạn này không chỉ có thể coi là những thi sĩ có tài mà còn đáng được tôn vinh là danh nhân. Thể loại thơ mà họ sử dụng có lúc đã bị kỳ thị, song nó vẫn vượt qua mọi khảo nghiệm của thời gian, biến đổi thích ứng với hoàn cảnh mới và những tác phẩm viết theo thể thơ ấy, về bất cứ mọi đề tài, trước hết là về chủ đề yêu nước và cách mạng, vẫn có vị trí xứng đáng trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam cận, hiện đại

   2d.“Thơ Đường luật có nguồn gốc ngoại sinh nên trong suốt lịch sử tồn tại, bằng những phương thức khác nhau, các nhà thơ luôn tìm cách đưa yếu tố Việt vào trong cấu trúc thể loại để phù hợp với tâm tư tình cảm của con người Việt Nam” (Võ Quang Huy).

    Bình thường đã phải làm thế, thời đại biến động mạnh mẽ kéo theo sự thay đổi nhanh chóng của tư tưởng, tình cảm và cả quan niệm thẩm mỹ thì nghệ thuật thơ tất yếu càng phải thay đổi theo. Báo cáo của Lê Đình Sơn, Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Thị Bích Hải… đã phân tích khá thấu đáo những đổi thay trên bình diện nghệ thuật đã làm cho thơ Đường luật, kể cả những vần thơ đầu thế kỷ dần  thể hiện phong cách hiện đại như gạt bỏ bớt tượng trưng ước lệ, khắc phục lối biểu hiện “phi ngã”, bộc lộ sắc nét vai trò chủ thể, sử dụng ngôn từ giản dị, mang tính quần chúng…Tuy nhiên, nhìn chung, còn ít báo cáo đi sâu khám phá những thay đổi về thi pháp của thơ Đường luật giai đoạn này. Qua phân tích  Xuất dương lưu biệt, Nguyễn Thị Bích Hải đã chứng minh “sự gặp gỡ tụ hội cổ kim” trên một số phương diện - ngay từ cách đặt tên đề thơ - từ góc nhìn thi pháp thơ Đường luật, mặc dầu về cách luật, bài thơ “hoàn toàn chuẩn xác, phù hợp với yêu cầu nghiêm ngặt của một bài luật thi”. Báo cáo dành nhiều công sức nhất cho sự phân tích nghệ thuật ở Hội thảo này là Đặc điểm giọng điệu thơ quốc âm Đường luật của nhà chí sĩ cách mạng Huỳnh Thúc Kháng của Phạm Thị Xuân Châu. Theo tác giả, giọng điệu chủ đạo  của cụ Huỳnh là giọng điệu thanh nghị và chị đã có rất nhiệu cố gắng để chứng minh, phân tích giọng điệu ấy trên mọi phương diện của lập luận, ngôn từ, thi pháp.

     2e. Một đóng góp nữa củả Hội thảo cần ghi nhận là đã cung cấp được nhiều tư liệu còn ít người biết như Thơ Đường luật của Nguyễn Quang Diêu, một lãnh tụ trọng yếu của phong trào Đông Du ở miền Nam, Thơ Đường luật viết bằng nhiều ngôn ngữ ( Hán, Nôm, Nôm Tày, Quốc ngữ) của các chí sĩ ở Cao Bằng…

    Có thể nói Hội thảo của chúng ta đã đạt được một cách khá tốt đẹp yêu cầu mà Hội đã đặt ra. Đó là nhờ sự đóng góp nhiệt tình của các chi hội và trực tiếp là sự nỗ lực của các Hội viên đã cố gắng hoàn thành việc viết báo cáo trong một thời gian ngắn trong những điều kiện rất khó khăn, trước hết là về mặt tư liệu. 

III. Triển vọng về sự phát triển của chủ đề Hội thảo

     Nhiều báo cáo cho rằng chủ đề mà hội nghị lựa chọn là rất thú vị và còn dư địa phát triển. Trước đây, NCS Trần Thị Lệ Thanh làm luận văn TIến sĩ với đề tài gần như trùng với chủ đề của Hội nghị này. Số lượng thơ Đường luật mà chị phát hiện và thống kê đã làm cho mọi người kinh ngạc. Hiện nay, chỉ căn cứ vào các nguồn tư liệu mà các báo cáo phát hiện, ta đã thấy một số lượng có thể nhiều gấp bội và tính chất của các nguồn cũng đa dạng hơn. Với nghiên cứu khoa học, tác phẩm là “sự kiện”, mà sự kiện là “cánh chim”, có thể nói là vấn đề tiên quyết. Tuy nhiên, thu thập tư liệu một cách đầy đủ, chuẩn xác không hề là việc giản đơn. Chỉ đối chiếu số lượng tác phẩm thơ Đường luật của một vài tác giả mà nhiều báo cáo cùng đề cập, ta thấy có sai số rất lớn, đặc biệt là với nữ sĩ Ngân Giang.

   Tiếp theo Hội nghị này, chúng ta có thể tiếp tục liên tục tổ chức những cuộc Hội thảo theo cùng một phương hướng chủ đề như Thơ Đường luật Lý Trần, Thơ Đường luật của Hồ Xuân Hương,…thậm chí Thơ Đường luật và Thơ Thiền ở Việt Nam. Chúng ta cũng có thể tổ chức Hội thảo theo hướng so sánh để thấy thơ Đường luật không phải là một thứ gông cùm bóp chết mọi sáng tạo, là một thứ khuôn đúc ra những sản phẩm như nhau mà những tài năng nghệ thuật vẫn có thể ngự trị nó, sử dụng nó để phô diễn cá tính của mình, như Thơ Đường luật của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thơ Đường luật của Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan, Thơ Đường luật của Tú Xương và Nguyễn Khuyến, Thơ Đường luật của Trần tuấn Khải và Tản Đà… Đến một độ nào đó, chúng ta có thể tổ chức Hội thảo với một chủ đề rộng lớn hơn, chẳng hạn, Thơ Đường luật Việt Nam: tiếp biến và sáng tạo. Đó là kỳ vọng của mỗi chúng ta, có lẽ cũng là một trong những hướng phấn đấu chủ yếu của Hôi thơ Đường luật Việt Nam.

    IV.Cuối cùng, chúng ta cũng cần rút ra một số kinh nghiệm về mặt xác định đề tài, về việc viết báo cáo cũng như trình bày báo cáo để những Hội thảo sau đạt kết quả tốt hơn.

   1.Như đã nói trên, chúng ta cần bám sát chủ đề của Hội thảo hơn để tránh tới mức tối đa tình trạng “việt vị”.

   2. Hội Thơ Đường Việt Nam có 2 hoạt động chính là sáng tác và nghiên cứu. Báo cáo tại Hội thảo cơ bản là những văn bản nghị luận nên phải rất tôn trọng luận điểm, luận chứng và quá trình lập luận. Nếu luận chứng không phù hợp, thiếu chuẩn xác, lập luận thiếu chặt chẽ, không phù hợp lô gic thì luận điểm rút ra sẽ chông chênh, thiếu sức thuyết phục.

    Chẳng hạn, các luận chứng về thơ Phan Văn Trị (1830 - 1910) cần được kiểm tra trước khi sử dụng. Nếu đa số tác phẩm nêu ra làm vào cuối thế kỉ 19, thì những luận điểm rút ra có thể có giá trị khoa học nào đó nhưng vẫn không thật phù hợp với chủ đề và tên gọi của Hội thảo. Tản Đà là một nhà thơ tài hoa, hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực, viết theo rất nhiều thể loại và về rất nhiều đề tài. Viết một bài về thơ Tản Đà theo sát yêu cầu Hội thảo không hề là chuyện giản đơn. Chúng tôi xin mạnh dạn nêu lên một đoạn trong báo cáo của bạn L. Đ. S mà Ban tuyển chọn buộc phải lược bỏ để cùng rút kinh nghiệm chung:

     “Nhiều người đặt ra câu hỏi thơ Đường luật Trung Quốc một thời hoàng kim là di sản văn hoá phi vật thể nhân loại nay lại vắng bóng. Nguyên nhân cơ bản của vấn đề này là sự chuyển đổi của ngôn ngữ văn tự sau cách mạng Tân Hợi 1911. Đó là sự chuyển đổi từ văn ngôn sang văn bạch thoại. Từ Hán ngữ cổ sang Hán ngữ hiện đại đã bị tinh lược một vài dấu thanh nên không phù hợp với luật “nhị tứ lục phân minh” trong sáng tác thơ Đường luật. Vì thế thơ Đường luật Trung Quốc ngày nay không được tiếp tục sáng tác.”

      Chúng tôi xin miễn bình luận vì đọạn văn trên bộc lộ quá nhiều sơ hở trong cả 3 khâu của quá trình lập luận. Điều cần nhấn mạnh: so sánh là một thao tác rất quan trọng trong lập luận, nhưng cũng là con dao 2 lưỡi.   Tuyệt không nên vì cần đề cao một hiện tượng A, ta đưa  một hiện tượng B nào đó ra so sánh một cách khiên cưỡng, thiếu khoa học.

      Tên gọi của Hội luôn nhắc nhở các Hội viên phải trình bày đúng một bài thơ Đường luật. Trong một bài thất ngôn bát cú, “liên” (cặp câu) là đơn vị cơ bản. Một chuyên gia hàng đầu quốc tế về thơ Đường luật đã nêu một nhận định dí dỏm đầy sức thuyết phục: “Trong một liên, mỗi câu thơ soi thấy bóng mình trong câu thơ đối diện”. Nghĩa là, 2 câu số lẻ và chẵn trong một liên thơ không được trình bày tách ra ở 2 trang, đặc biệt không được trình bày chơ vơ riêng một câu ở một trang tách khỏi 7 câu còn lại. Tiếc rằng nhiều báo cáo, kể cả bản kỷ yếu cũng mắc sai sót ấy. Hội ta là một sân chơi quần chúng rộng rãi, Ban phụ trách lại không có ai được hưởng lương chuyên trách. Trong hoạt động có một số khuyết điểm là chuyện bình thường, chỉ cần cẩn thận hơn một chút là hoàn toàn có thể khắc phục.

                                                           Giáo sư Nguyễn Khắc Phi    

    Mời bạn đọc vào YoTube tìm kiếm " HỌI THAO THO DUONG LUAT 2017"  để xem toàn bộ Chương trình Hội thảo. Cảm ơn.

 

 

Tác giả BBT