THÔNG BÁO

Chuc nam moi.jpgChào năm mới ! 2017
      Năm 2016 đã qua đi theo thời gian và những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ XII  đã thành công rất, rất tốt đẹp, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước. Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất nổi trội....
Hướng tới Hội thảo " Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thể kỷ XX trong dòng thơ ca Yêu nước và Cách Mạng "
14-10-2017
 Anh XO viet.jpgXin giới thiệu Bài viết của Đức Thọ . Trưởng ban Tuyên Truyền Hội

             Những ngọn đuốc thơ luật Đường toả sáng trong dòng văn học Việt Nam  yêu nước và cách mạng, nửa đầu thế kỷ XX

 

       

      Ðầu thế kỉ XX Pháp cơ bản đã thực hiện xong công cuộc bình định trên đất nước ta và chuyển sang khai thác thuộc địa, xây dựng trật tự mới. Ðây là thời điểm Pháp cảm thấy có thể yên tâm và phấn khởi trước cảnh “thái bình” mà chúng hằng mong đợi. Nhưng đối với dân tộc ta, đây là những ngày tháng đau thương, bi đát nhất của lịch sử.  

      Chính vì vậy văn học giai đọan nửa đầu thế kỷ XX đã để lại một dấu ấn sâu sắc, một sự chuyển hóa hết sức dữ dội, thơ luật Đường nói riêng cũng không ngoài quy luật ấy.  

       Bên cạnh các thể loại văn học mới xuất hiện trong văn học Việt Nam  đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 như là: kịch nói, bút kí, phóng sự, tiểu thuyết, phê bình văn học... Văn học có  sự cách tân, hiện đại hóa ở cả thơ ca: Thơ mới phá bỏ các quy phạm chặt chẽ của thơ cũ, chuyển từ cái ta chung chung sang cái tôi cá nhân. Chính vậy thơ luật Đường trong giai  đoạn này  cũng coi như bị ảnh hưởng. Dù sao tầng lớp nho sĩ vẫn đồng hành cùng dòng thơ luật Đường nhưng cũng đã chuyển dần từ thơ chữ Hán sang thơ nôm, thơ quốc ngữ. Thơ luật Đường Tú Xương là bước đệm  mở đường cho trào lưu thơ luật Đường chữ quốc ngữ từ thế kỷ XIX sang thế kỷ XX. (Hội thơ Đường luật Việt Nam đã tổ chức Hội thảo “ Tú Xương với thơ Đường luật Việt Nam tháng 10/2016)

         Dòng văn học thời kỳ này bị phân hóa . Văn học công khai hợp pháp và dòng văn học yêu nước cách mạng nửa bí mật, nửa công khai nhằm  vận động quần chúng cách mạng.  Thơ luật Đường cả chữ Hán lẫn thơ chữ Nôm , chữ quốc ngữ cũng theo chiều hướng ấy. Nửa công khai nửa bí mật để tránh sự kiểm duyệt của bộ máy cai trị .

        Lực lượng sáng tác chủ yếu của dòng văn học yêu nước và cách mạng giai đoạn 1900 - 1950 là các nhà Nho. Nhưng đây là những nhà nho có tư tưởng tiến bộ. Họ là những người trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào các phong trào cách mạng lúc bấy giờ. Họ cũng từng là những "chí đồ đệ" của Khổng Tử nhưng lập trường tư tưởng của họ khác với lớp nhà nho trước kia. Họ đã được tiếp nhận các luồng tư tưởng tiến bộ từ nước ngoài truyền vào, thông qua sách báo, mà tiêu biểu là tân thư và tân văn. Họ quan niệm văn chương cũng là một loại vũ khí đánh giặc cứu nước, cho nên họ đã sáng tác văn chương để phục vụ cho hoạt động chính trị. Ðó là những chí sĩ như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh…

      Quần chúng lao động cũng là những người sáng tác tích cực của bộ phận văn học yêu nước và cách mạng ở giai đoạn này.   Ngoài ra còn có một lực lượng không nhỏ những tác giả mà chúng ta chưa được biết tên tuổi. Tác phẩm của họ có nội dung thể hiện tinh thần yêu nước thiết tha, ý chí đấu tranh chống giặc đến cùng, Vì muốn tránh sự theo dõi của mật thám, họ thường dấu tên  và bí mật để phổ biến tác phẩm của mình. 

            Mặc dù thực dân Pháp lúc đó phong tỏa một cách hà khắc thơ chữ Hán truyền thống của Việt Nam, những các tác phẩm thơ chữ Hán vẫn là một vũ khí lợi hại trong việc khơi dậy lòng yêu nước, phát động các cuộc đấu tranh chống Pháp, nêu lên những tấm gương của các bậc cách mạng tiền bối, và nó cũng đã trở thành trào lưu chính của thời đại. Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh là hai vị đầu quân của cuộc Cách mạng dân chủ ở Việt Nam, và cũng là những thống soái trong các thơ đàn yêu nước. Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt ở Thượng Hải, giải về giam lỏng tại Việt Nam, Phan Chu Trinh thì bị đày ra Côn Đảo. Nhưng những tác phẩm thơ chữ Hán của hai ông vẫn được lưu truyền rộng rãi, các nhà sáng tác thơ yêu nước khác cũng đã viết nên nhiều những áng văn thơ chữ Hán ngập tràn lòng yêu nước, nối triệu trái tim với triệu trái tim, trở thành trào lưu chính của văn đàn lúc đó. Đây là nguồn khích lệ rất lớn cho cuộc đấu tranh giải phóng giành độc lập dân tộc. Bên cạnh những tác phẩm luật Đường như “ Nữ Trưng Vương “,Khi gió heo may về “… của nữ sĩ Ngân Giang. thì những mảng thơ luật Đường của  Tản Đà, của Quách Tấn, của Hàn Mặc Tử, những bài thơ yêu nước, những ngọn đuốc rực sáng lòng yêu nước và cách mạng:

             Ví như bài thơ:

Tuyệt mệnh thi :

           Phan Bội Châu (1867-1940)

Thống khốc giang san dữ quốc dân,

Ngu trung vô kế chửng trầm luân.

Thử tâm vị liễu thân tiên liễu,

Tu hướng tuyền đài diện cố nhân.

                           Dịch thơ

Thơ tuyệt mệnh

Đau khóc non sông với quốc dân,

Tài hèn khôn vớt khỏi trầm luân.

Lòng này chưa trọn thân này chết,

Thẹn xuống tuyền đài gấp cố nhân.

Lưu phóng Côn Lôn đảo

           Phan Chu Trinh (1871-1926)

Luy tuy thiết toả xuất đô môn,

Khảng khái bi ca thiệt thượng tồn.

Quốc thổ trầm luân dân tộc luỵ,

Nam nhi hà sự phá Côn Lôn.

              Dịch thơ :Phan Khôi

 

      Đi đầy Côn Lôn

Mang xiềng nhẹ bước khỏi đô môn,

Hăng hái hò reo lượn vẫn còn,

Đất nước hãm chìm dân tộc héo,

Làm trai đâu xá thứ Côn Lôn.

    Hay bài : Bài thơ tuyệt mệnh của liệt nữ Ấu Triệu Lê Thị Đàn

I

Huyết khô lệ kiệt hận nan tiêu

Trường đoạn Hương giang nhật dạ trào

Ngô đảng tảo thanh cứu lỗ nhật

Phần tiền nhất chỉ vị nắng thiêu.

II

Trùng tuyền yểm lệ kiến Trưng Vương

Đề huyết thư quyên chỉ tự thương

Bằng tạ phật linh như tái thế

Nguyện thân thiên tý tý thiên sang.

III

Thê lương ngục thất mệnh chung thi

Hải khoát sa không khốc tự tri

Tử quốc đảo núng thiên hữu phận

Thương tâm quan lũ kỷ nam nhi.

 

Dịch thơ: Đặng Thai Mai

I

Huyết lệ dầu khan, giận chửa sờn

Chiều hôm tê tái nước sông Hương

Đảng ta khi quét xong quân giặc

Trước nấm mồ em đốt bó nhang.

II

Suối vàng gạt lệ gặp Bà Trưng

Máu thắm hồn quyên khóc thảm thương

Lạy Phật, thân này còn hóa kiếp

Tay xin nghìn cánh, cánh nghìn thương.

III

Lạnh lùng cảnh ngục lúc quyên sinh

Biển rộng đồng không mình biết mình

Chết với nước non em tốt số

Chạnh lòng tủi hổ lũ trâm anh.

Những bài thơ ca ngợi những tấm gương yêu nước truyền miệng, không rõ tác giả như ;

"Công chi sinh, sinh ích vu thời,
Tạo hóa kỳ sinh, sinh hữu tử,
Công chi tử, tử lưu vu hậu,
Anh hùng chi tử, tử như sinh"

Tạm dịch:

"Ông đã sinh, sinh để có ích cho đời,
Tạo hóa mà sinh, sinh có mất,
Ông đã mất, mất để lưu danh hậu thế,
Anh hùng mà mất, mất vẫn như còn".

 

Và  những bài thơ quốc ngữ như:

          Sống - Chết

Sống mà vô dụng, sống làm chi
Sống chẳng lương tâm, sống ích gì?
Sống trái đạo người, người thêm tủi
Sống quên ơn nước, nước càng khi.
Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn
Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ
Sống sao nên phải, cho nên sống
Sống để muôn đời, sử tạc ghi.

Chết sao danh tiếng vẫn còn hoài
Chết đáng là người đủ mắt tai
Chết được dựng hình tên chẳng mục
Chết đưa vào sử chứ không phai
Chết đó, rõ ràng danh sống mãi
Chết đây, chỉ chết cái hình hài
Chết vì Tổ quốc, đời khen ngợi
Chết cho hậu thế, đẹp tương lai.

                              Nguyễn An Ninh

            Những bài thơ chữ Hán, chữ quốc ngữ trên đã chứng minh một điều rằng những nhà yêu nước Việt Nam đã sử dụng loại vũ khí sắc bén này để tiến hành đấu tranh và nó đã có đóng góp quan trọng mở đầu thời kỳ lịch sử chống chủ nghĩa thực dân . Cụ Phan Bội Châu với trên 100  bài , Cụ Phan chu Trinh với nhiều tác phẩm  đa loại.

      Từ thập niên 30 thế kỷ XX, dưới ngọn cờ đấu tranh giành độc lập giải phóng dân tộc của những người cộng sản Việt Nam mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyệt đại tầng lớp quần chúng công nông đã bước lên vũ đài quan trọng của lịch sử, văn thơ gốc chữ Latinh của Việt Nam (quốc ngữ) đạt được tốc độ phát triển nhanh chóng. Đồng thời, những tác giả sáng tác thơ chữ Hán vẫn tiếp tục có những tác phẩm thơ chữ Hán, trong đó với thủ pháp nghệ thuật ngôn từ tả tình, tả cảnh, nêu sự việc trong thơ chữ Hán theo chủ nghĩa hiện thực cách mạng và lãng mạn cách mạng đã tạo nên một tầm cao mới cho văn thơ chữ Hán của Việt Nam.

      Hồ Chí Minh đã mở ra một chân trời mới cho thơ chữ Hán Việt Nam.  Mặc dù dưới ách thống trị của thực dân Pháp, thơ văn chữ Hán cổ điển dần mất đi vị trí của mình, nhưng thơ chữ Hán yêu nước tiếp tục phát triển. Tiếp bước những thi sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh là sự kế thừa và phát triển truyền thống tốt đẹp của thơ chữ Hán  Việt Nam, hơn nữa Người cũng đã gạt bỏ đi chủ nghĩa duy tâm, tư duy phong kiến để mở ra một chân trời mới trong sáng tác thơ văn chữ Hán cách mạng.

      Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh đã thể hiện được tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là thể hiện được "tinh thần Hồ Chí Minh". Năm 1942, trong nhà giam Người đã viết:

 

Khán "Thiên gia thi hữu cảm"

Cổ thi phiến ái thiên nhiên mỹ,

Sơn thủy yên hao tuyết nguyệt phong.

Hiện đại thi trung ứng hữu thiếc,

Thi gia dã yếu hội xung phong.

 

Dịch thơ

 

Cảm tưởng đọc "Thiên gia thi"

Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp,

Mây gió trăng hoa tuyết núi sông.

Nay ở trong thơ nên có thép,

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

          (Bác Hồ với thơ Đường luật Việt Nam, Hội thơ Đường luật Việt Nam đã có buổi Hội thảo vào tháng 10/ 2015) tại Bảo tàng Hồ Chí Minh)                                        

       Một ngọn đuốc – một bài thơ luật  Đường sáng chói , thể hiện lòng yêu nước và cách mạng trong thời kỳ này là bài thơ “Nhắn bạn” của Hoàng Văn Thụ - Nhà cách mạng yêu nước viết cho người bạn cùng lao tù , khi ông bị mang đi xử, bài thơ tuyệt mệnh gửi nhắn tới bà Hoàng Ngân, nằm ở sà lim cạnh phòng ông. Viết  bằng thơ quốc ngữ:

Việc nước xưa nay có bại thành,

Miễn sao giữ trọn được thanh danh,

Phục thù, chí lớn không hề nản,

Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành.

Thân dẫu lao tù lâm cảnh hiểm,

Chí còn theo dõi buổi tung hoành.

Bạn hỡi gần xa hăng chiến đấu,

Trước sau xin giữ tấm lòng thành!

                             Hoàng Văn Thụ

     Tất cả nhưng chi tiết trên dù chưa  đủ nói nên thơ Đường luật Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX, dù có lắng đi trong dòng văn học giao thời nhưng vẫn có  những ngọn đuốc sáng chói viết theo  thể thơ luật Đường trong dòng văn học Yêu nước và cách mạng ở đầu thế kỷ XX.

                                                    Chủ nhiệm

                                          Trang thơ Điện tử Hội

 

 

 

           

Tác giả BBT