THÔNG BÁO

Chuc nam moi.jpgChào năm mới ! 2017
      Năm 2016 đã qua đi theo thời gian và những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ XII  đã thành công rất, rất tốt đẹp, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước. Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất nổi trội....
TRĂNG TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA BÁC
14-09-2017
nguyen3.jpgXin được giới thiệu bài viết của Bùi Chí Thành

TRĂNG TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA BÁC

 

                                                                           - BÙI CHÍ THÀNH*

 

        Từ xưa tới nay trong văn học tình yêu thiên nhiên và cảnh sắc con người là nguồn cảm hứng vô tận cho các thi nhân! Với những tứ thơ sâu nặng nghĩa tình, chan chứa yêu thương mà ngọt ngào thi vị! Đặc biệt trăng trong thơ chữ Hán của Bác “Nhật ký trong tù”, “Thơ chữ Hán ở chiến khu” nhiều bài, nhiều câu thơ nói về trăng như một người bạn tri âm, tri kỷ,  trìu mến, trữ tình:

“Trên bàn Bác chúng con không thắp nến,

Đã có vầng trăng ôm ấp quanh Người.

Bác yêu trăng như yêu một cuộc đời,

Trong thơ Bác trăng với hoa là bạn”

                                       (Hải Như)

        Trăng trong thơ Bác còn là mối giao hoà giữa cảnh sắc thiên nhiên và con người, là phong thái ung dung tự tại của Bác, Trong gian lao, đày doạ Bác vẫn luôn lạc quan , yêu đời, vươn tới tự do:

“Khi lắng chim rừng ca rộn núi,

Khi nhìn khóm chuối ánh trăng soi.

Lao lung lòng vẫn luôn thư thái,

Nắm chắc trong tay cả cuộc đời”

(Đọc thơ Bác – Hoàng Trung Thông)

 

        Tác giả muốn nói “Trăng trong thơ chữ Hán của Bác” là muốn ta so sánh, đối chiếu với nguyên tác để hiểu hết cái vẻ đẹp, cái “Thần” của tác phẩm.

        Trước hết nói về thơ trăng trong “Nhật ký trong tù”- “Vọng nguyệt” là một bài thơ tuyệt tác:

           

 

良宵

 

          Phiên âm:                      VỌNG NGUYỆT

 

Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,

Đối thử lương tiêu nại nhược hà?

Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,

Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

 

           Dịch nghĩa:                     NGẮM TRĂNG

 

Trong tù không có  rượu cũng không có hoa,

Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm sao?

Người hướng ra trước cửa sổ ngắm trăng sáng,

Trăng dọi qua khe cửa sổ ngắm nhà thơ.

             Dịch thơ:                         NGẮM TRĂNG

 

Trong tù không rượu cũng không hoa,

Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ?

Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.

 

           Nếu như “Đề từ”(Mở bài) nêu lên chủ đề tư tưởng toàn tập thơ “Dục thành đại sự nghiệp”, “Tinh thần cánh yếu đại”(Muốn nên sự nghiệp lớn; Tinh thần cần phải cao), thì “Vọng nguyệt”chính là sự thể hiện phong thái ung dung và khí phách hào hùng “Thân thể tại ngục trung; Tinh thần tại ngục ngoại” (Thân thể ở trong lao; Tinh thần ở ngoài lao) của Bác, trong một khung cảnh đặc biệt: Trong tù ngắm trăng.

           Hai câu cuối của bài thơ “Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,

                                                     Nguyệt tòng song khích khán thi gia.”

           Bằng cú pháp song song và sự đổi thay vị trí của Chủ ngữ và Tân ngữ đã làm toát lên sự giao hoà giữa tâm hồn tác giả và cảnh đẹp thiên nhiên bên ngoài mà song sắt nhà tù Quốc Dân đảng không thể nào ngăn cách được người. Cả bài thơ không có một chữ “Thép” nào cả nhưng bài thơ đầy chất “Thép”. Trong lao tù dưới chế độ Tưởng Giới Thạch tàn bạo và hà khắc nhưng vẫn không lay chuyển được ý chí sắt đá, một tinh thần lạc quan cách mạng, một tâm hồn, tình cảm cao quý của người chiến sĩ cách mạng vĩ đại!

        Trong cảnh tù đày, vầng trăng bầu bạn vốn gần gũi cũng trở thành ngăn cách.“Trung thu” trong tù thưởng thức trăng, lòng Bác vợi vợi theo ánh trăng thu, một nỗi niềm khao khát không được tự do để ngắm trăng. Trong hoàn cảnh tối tăm của nhà tù, vầng trăng là biểu hiện nỗi lòng, khát khao tự do cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng. Chính hoàn cảnh thử thách Bác lại sáng tạo ra những vần thơ mạnh mẽ nhất ý chí tự do của con người “Những bài thơ Người viết trong tù chứa đầy ánh sáng dịu hiền và khát vọng tự do” (Blaga Đimỉtrôva).

 

          ( )

 

 

            Phiên âm:                      TRUNG THU

                        II

Ngục trung nhân dã thưởng trung thu,

Thu nguyệt thu phong đới điểm sầu;

Bất đắc tự do thưởng thu nguyệt,

Tâm tuỳ thu nguyệt cộng du du.

 

            Dịch nghĩa:                    TRUNG THU

                        II

Người trong ngục cũng thưởng thức trung thu,

Trăng thu, gió thu đều vương sầu;

Không được tự do ngắm trăng thu,

Lòng theo cùng trăng thu vời vợi.

 

            Dịch thơ:                        TRUNG THU

                         II

Trung thu ta cũng tết trong tù,

Trăng gió đêm thu gợn vẻ sầu;

Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt,

Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu.

 

       Hay trong bài “Tảo giải” (Giải đi sớm), Bác lại có cách nhìn rất mới về trăng. Trăng là hình ảnh lý tưởng cao đẹp để người chiến sĩ vươn tới đi lên trên con đường dài gian khổ, ngửng mặt hiên ngang dám đón những phong ba thử thách. Dù rằng ở đâu, hoàn cảnh khắc nghiệt như thế nào, Bác vẫn mang một phong thái ung dung, tự tại, tinh thần lạc quan cách mạng, chỉ cần thấp thoáng ánh trăng soi cũng để tâm hồn Bác dạt dào thi hứng. Khoảnh khắc giao cảm giữa thiên nhiên và con người đem đến sự biến đổi kỳ diệu: Tù nhân biến thành thi nhân. Ánh trăng như  một biểu tượng ánh sáng trong đêm tối , ánh sáng một niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc!

 

          

 

未闌

月上

 

            Phiên âm:                          TẢO GIẢI

 

Nhất thứ kê đề dạ vị lan,

Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san;

Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,

Nghênh diện thu phong trận trận hàn.

 

             dịch nghĩa:                     GIẢI ĐI SỚM

 

Gà gáy một lầ, đêm chưa tàn,

Chòm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi mùa thu;

Người đi xa đã cất bước trên đường xa,

Ngửng mặt đón từng trận gió thu lạnh buốt.

 

              Dịch thơ:                       GIẢI ĐI SỚM

 

Gà gáy một lần đêm chửa tan,

Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn;

Người đi cất bước trên đường thẳm,

Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.

 

       Ở trong tù, trăng trong thơ bác bộc lộ một tầm nhìn, một quan điểm triết lý và nhân sinh quan tiến bộ và cảm xúc thẩm mỹ cao đẹp, biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn người Cộng sản. Sống trong nhà tù tối tăm, chật hẹp, lãnh lẽo, lính canh đứng gác. Nhưng tâm hồn Bác vẫn thanh cao. Bác không quẩn quanh trong bốn bức tường nhà giam mà hướng ra bên ngoài để được bay bổng cùng trăng. Đó là vẻ đẹp huyền ảo, thơ mộng của vầng trăng cũng là biểu tượng của tự do theo ánh trăng mà “lướt giữa làn mây” trong bài “Thu dạ” (đêm thu)

 

     

                     …門

                       月飛

 

              Phiên âm:                          THU DẠ

 

                              … Môn tiền vệ sĩ chấp thương lập,

                                   Thiên thượng tàn vân bạng nguyệt phi…

 

              Dịch nghĩa:                          ĐÊM THU

 

                              … Trước cửa lính gác bồng súng đứng,

                                   Trên trời đám mây tàn bay bên vầng trăng;…

 

                Dịch thơ:  …Trước cửa lính canh bồng súng đứng,

                                      Trên trời trăng lướt giữa làn mây;…

 

       Thơ trăng trong “Nhật ký trong tù” của Bác là người bạn, là chổ dựa tinh thần của Bác. Bác mượn trăng để giải bày tâm trạng, chia sẻ nỗi niềm, là khát vọng vươn tới tự do bay khắp nhân gian để toả sáng. Trăng luôn bên Người trên bước đường lưu ly, thử thách; trăng cũng luôn là nguồn cảm hứng cho thơ. Giữa “Cõi lòng” của con người với cuộc sống của vạn vật trong thơ Bác mối đồng cảm luôn tìm được hình thức biểu hiện độc đáo. Và nhất là ánh trăng!

       Tiếp theo ta nói đến trăng trong thơ chữ Hán ở chiến khu của Bác. Có gì đẹp hơn gió núi, trăng ngàn! “Nguyên tiêu” (Rằm tháng giêng) là một bài thơ trăng kỳ diệu. “Nguyên tiêu” một trong những kiệt tác của đời thơ Hồ Chí Minh. Năm 1948, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta mới trải qua hơn một năm, còn gặp nhiều khó khăn, chồng chất. Quân Pháp tấn công lên Việt Bắc hòng tiêu diệt lực lượng chủ yếu và cơ quan đầu não cuộc kháng chiến. Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, Bác, quân và dân ta đã làm thất bại mọi âm mưu của địch. Bài thơ ra đời trong bối cảnh Lịch sử đó.

       Sau khi bàn việc “Quân cơ, quốc kế” nơi sâu thẳm khói  sóng (Nơi rất bí mật) trở về đúng vào đêm “Nguyên tiêu”. Cảnh ban đêm ở chiến khu Việt Bắc, đất trời, sông nước tràn đầy ánh trăng, sắc xuân, sức xuân, trời xuân hoà quyện vào nhau. Các cán bộ cách mạng đồng thanh reo lên: - Đêm nay, trăng đẹp quá! Đúng rằm tháng giêng, đề nghị Bác làm thơ.

        Trước vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, hoà quyện với vể đẹp lung linh của một tâm hồn lớn, Bác lấy đầu đề bài thơ là “Nguyên tiêu” và cảm hứng đọc bốn câu thơ tứ tuyệt

bằng chữ Hán.

 

                                                                 

                                                元宵月

滿

            一九四八年

              

 

        Phiên âm:                                NGUYÊN TIÊU

 

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,

Xuân giang, xuân thuỷ, tiếp xuân thiên.

Yên ba thâm xứ đàm quân sự,

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

                                       1948

                                (Hồ Chí Minh)

 

        Dịch nghĩa:                           RẰM THÁNG GIÊNG

 

Đêm nay, đêm rằm tháng giêng, trăng tròn chính giữa,

Sông xuân, nước xuân, nối liền với trời xuân.

Nơi sâu thẳm khói sóng bàn bạc việc quân,

Nửa đêm trở về trăng đầy thuyền.

 

      Dịch thơ:                                RẰM THÁNG GIÊNG

 

Rằm xuân lồng lộng trăng soi,

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân;

giữa dòng bàn bạc việc quân,

khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

 

         (Xuân Thuỷ dịch trong thơ Hồ Chủ Tịch)

 

        Bản dịch hiện nay được sử dụng trong Ngữ văn 7, tập 1 là bản dịch của Xuân Thuỷ, một trong những bản dịch có hoàn cảnh ra đời khá đắc biệt: Dịch ứng khẩu. Để hiểu đúng hơn về bài thơ, tôi xin bổ sung hai bài thơ dịch khác của chính Xuân Thuỷ, là sự trăn trở tâm huyết của ông sau bản dịch ứng khẩu đầu tiên.

 

        Bản dịch 2:                            RẰM THÁNG GIÊNG

 

“Răm xuân vằng vặc trăng soi,

Xuân sông, xuân nước, xuân trời đẹp thay;

Việc quân bàn giữa sương dày,

Khuya về bát ngát thuyền đầy ánh trăng.”

           (Xuân Thuỷ - Dịch)

 

      Với bản dịch hai, ông vẫn cảm thấy chưa thoả mãn, và trong một lần đau nằm viện, ông đã dịch lại bài thứ ba. Với bài này, ông tâm đắc hơn cả:

 

         Bản dịch 3 :                        RẰM THÁNG GIÊNG

 

“Rằm tháng giêng trăng tròn sáng tỏ,

Hoà sông xuân, nước xuân, trời xuân.

Nơi khói sóng luận bàn quân sự,

Khuya thuyền về ăm ắp trăng ngân.

                          (Xuân Thuỷ - Dịch)

       “Nguyên tiêu” là một trong những bài thơ hay nhất của Bác làm trong những ngày đầu ở chiến khu Việt Bắc, gian khổ, thiếu thốn nhưng tràn đầy tinh thần cách mạng. bài thơ còn là sự hài hoà giữa con người nghệ sĩ và con người chiến sĩ trong một con người Hồ Chí Minh. Con thuyền của lãnh tụ trở thành con thuyền của thi nhân chở đầy ánh trăng.

        Trăng trong thơ Bác sao mà “Nũng nữu” mà “Tình tứ” đến thế. Khi thì “Rằm xuân trăng đẹp, trăng tròn”, khi thì “Trăng thu vừa đẹp vừa tròn”, khi thì “Trăng ngân đầy thuyền” và bây giờ trăng lại “Đòi thơ”. Cùng Bác chia vui tin thắng trận. Trăng xuất hiện thì chuông lầu đêm thu reo lên, kéo Người ra khỏi “giấc thu” báo tin thắng trận, thì nhà thơ có thơ ngay chứ nào phải chờ đến hôm nao! Và chúng ta sung sướng tự hào có những bài thơ xuất sắc như bài “Báo tiệp” (Tin thắng trận) này. Trong niềm vui thắng trận, trăng cũng không thể nào vắng bóng. Thật không phải vô cớ mà Liên Xô đã chọn dịch bài thơ này ra tiếng Nga và nhiều tiếng dân tộc khác, lại phổ nhạc để phổ biến khắp đất nước vĩ đại của mình!

 

          

 

 

             Phiên âm:                        BÁO TIỆP

 

Nguyệt thôi song vấn: - Thi thành vị?

- Quân vụ nhưng mang vị tố thi.

Sơn lâu chung hưởng kinh thu mộng,

Chính thị Liên khu báo tiệp thì.

 

            Dịch nghĩa:               TIN THẮNG TRẬN

 

                              Trăng đẩy cửa sổ hỏi: Thơ xong chưa?

- Vẫn còn bận việc quân, chưa làm thơ được,

  Bỗng tiếng chuông ở lầu trên núi vọng tới tỉnh giấc mộng đêm thu,

  Chính là lúc có tin thắng trận ở Liên khu báo về.

 

               Dịch thơ:                  TIN THẮNG TRẬN

 

                                               Trăng vào cửa sổ đòi thơ,

                                     - Việc quân đang bận xin chờ hôm sau.

                                               Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu,

                                         Ấy tin thắng trận Liên khu báo về.

 

(Huy Cận - Dịch)

 

      Lại một lần khác, cũng sau khi “Việc nước, việc quân” bàn xong, Bác lại nói lên cái thư thái của lòng mình, lại kéo gối “Đối nguyệt” mà ngủ. Thật là một giấc ngủ tuyệt vời!

  

                                             

                                                  

 

 

      Phiên âm:                                ĐỐI NGUYỆT

 

Song ngoại nguyệt minh lung cổ thụ,

Nguyệt di thụ ảnh đáo song tiền.

Quân cơ, quốc kế thương đàm liễu,

Huề chẩm song bàng đối nguyệt miên.

 

      Dịch nghĩa:                                 ĐỐI TRĂNG

 

Ngoài cửa sổ ánh trăng lồng trên cây cổ thụ,

Ánh trăng nhích dần bóng cổ thụ lại trước cửa sổ.

Việc quân, việc nước bàn bạc xong rồi,

Xách gối đến bên cửa sổ, nằm ngủ dưới ánh trăng.

 

        Dịch thơ:                                     ĐỐI TRĂNG

 

Ngoài song, trăng rọi cây sân,

Ánh trăng nhích bóng cây gần trước song.

Việc quân, việc nước bàn xong,

Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm.

                              (Nam Trân - Dịch)

 

         Thật không phải dễ mà có được một phong thái ung dung tự tại như thế, khi hàng ngày, khi nhiệm vụ đã xong vẫn “Chim bên cửa sổ”, “Trăng đầy thuyền”, hay “Kéo gối đối trăng mà ngủ”. Bác lúc nào cũng chủ động tự tạo được một thế giới! Đó là biểu hiện cao độ của sự bình thản bên trong. Đó cũng là phong thái bắt nguồn từ vận mạng của dân tộc gian truân nhiều, bão táp lắm và luôn làm chủ được vận mạng của mình.

         Kể sao hết được trăng trong thơ Bác, bởi lẽ “Thơ Bác đầy trăng”. Trăng trên mọi nẻo đường Bác đi. Có vầng trăng trong cảnh tù đày. Có vầng trăng kháng chiến. Có vầng trăng thanh bình. Bác yêu thiên nhiên, sống lạc quan yêu đời cho nên tâm hồn Bác lúc nào cũng hướng về ánh sáng, về cái đẹp! Trăng là biểu tượng của vẻ đẹp vĩnh hằng. Trăng là ánh sáng, là trong trắng, là mát mẻ, là hạnh phúc, mơ ước của con người, là niềm an ủi và cũng là trượng trưng cho tình chung thuỷ, lòng trung thành!

         Trăng trong thơ chữ Hán của Bác, trăng luôn được Bác dành cho một chổ ngồi rộng rãi, cao quý! Trăng vừa mang màu sắc cổ điển của tao nhân mặc khách, vừa mới mẻ hiện đại đậm đà thi vị. Trăng đã tạo nên bản sắc và tính thẩm mỹ trong thơ Bác. Bác là một nhà thơ yêu trăng, viết nhiều thơ về trăng vì Bác giàu lòng yêu thương con người! Trăng trong thơ Bác chiếu sáng một tấm lòng nhân ái bao la đối với thiên nhiên, tạo vật, đối với nhân dân, quê hương, đất nước thiết tha gắn bó!

         Đọc thơ trăng của Bác để “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn”! Yêu cái đẹp trong thơ trăng của Bác, cái đẹp trong thơ trăng cổ nhân. Chúng ta học tập tinh thần yêu nước, thương dân của Bác! Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người!

 

 

     Tài liệu tham khảo:

  1. Hồ Chí Minh, Nhật ký trong tù, Nxb Văn học, Hà Nội – 1983.
  2. Thơ chữ Hán, Hồ Chí Minh, Nxb Văn học, Hà Nội 1990
  3. Trần Thanh Mai, Học tập một số thơ văn Hồ Chủ tịch, Tạp chí Văn học số 5 – 1960.
  4. Lưu Trọng Lư, Đọc thơ Bác, tạp chí Văn học số 5 – 1967
  5. Đặng Thai Mai, Tình cảm thiên nhiên trong “Ngục trung nhật ký”, Tạp chí Văn học số 5 – 1970.

 

 


BÙI CHÍ THÀNH

Nguyên GVC. Khoa XH. Trường CĐSP Nghệ - Tĩnh

Nguyên CVC. TP. VH – TT . TX. Hồng Lĩnh

Đ/C. LL: Tổ dân phố 5 -Thị trấn, Đức Thọ, Hà Tĩnh

ĐT: 0915689219

Tác giả BBT