THÔNG BÁO

Chuc nam moi.jpgChào năm mới ! 2017
      Năm 2016 đã qua đi theo thời gian và những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ XII  đã thành công rất, rất tốt đẹp, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước. Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất nổi trội....
HỮU ĐỀ THI, tức là thơ có đề, và VÔ ĐỀ THI, tức là thơ không đề.
08-04-2017
 Thuyền Trang.JPGXin được giới thiệu

   Thơ không đề dễ làm mà khó hay. Thơ có đề khó làm mà dễ hay.

Khó làm là vì bị đề thơ bó buộc, ngòi bút không thể tung hoành được tự do. Dễ hay vì đường lối đã có sẵn, người làm thơ chỉ cố gắng là có thể đi đến chỗ thành công.
    Còn dễ làm là vì không lệ thuộc vào đầu đề, tình ý dễ dàng tuôn trào theo nguồn cảm hứng như gió đồng rộng, nước nguồn cao. Nhưng khó hay là vì thi nhân phải tự vạch cho mình đường đi nước bước thích hợp mà phi kẻ tài cao không dễ gì mình tự làm chủ lấy mình.
     Cổ hiền phương Tây có câu: "Nghệ thuật sanh nhờ cưỡng bách, chết vì tự do" là vậy đó.
    Cho nên chúng ta nên làm thơ có đề trước.
     Nhưng không phải dạng đề thơ nào cũng cố gắng phí công sức làm. Phải lựa chọn. Chúng ta nên tránh những đề mục thông thường, có tính cách xã giao như thơ chơi Tết, thơ mừng thọ, thơ mừng cưới hỏi... Những đề tài ấy, đối với những người đã rành nghề, là những đề tài rất khó khăn. Bởi người trước đã làm nhiều lắm rồi, chúng ta làm nữa cũng không sao tránh khỏi lặp lại những tình ý người trước đã nói, trừ những bậc tài cao bút luyện, khó tìm ra những từ, tứ tân kỳ. Cũng không nên chọn những vấn đề rộng lớn như thân phận con người, hồn dân tộc, tình nhân loại, thơ muôn thuở...Vì ngòi bút dù tài tình đến đâu cũng không thể diễn tả nỗi trong phạm vi 8 câu 7 chữ.
     Chúng ta chỉ nên chọn những chủ đề mà đời sống thường ngày cống hiến cho chúng ta. Chúng ta hãy nói lên những nỗi buồn, những niềm vui, những khát vọng, những tư tưởng...thoáng hiện trong tâm hồn, những vẻ đẹp nhìn thấy trước mắt, nhớ lại trong ký ức, trông thấy trong mơ mộng... Hãy nói lên những cái đó với lòng chân thành thắm thiết. Những vật chung quanh mình, những sự việc xảy ra trước mắt mình đều là những đề tài nên thơ, nếu chúng ta hòa lòng chúng ta vào sự vật, nếu chúng ta biết cách dùng những sự vật để tự diễn đạt mình, diễn đạt những hình ảnh của mộng mị, của những kỷ niệm xa xưa...Nhưng xin nhắc lại một lần nữa, phải cố tránh những đề tài người ta đã dùng đi dùng lại nhiều quá, nếu chúng ta không khám thêm được những gì tân kỳ, độc đáo...

Một khi đã có đề rồi thì chúng ta lo lập ý, cấu tứ.
Nhưng trước khi lập ý, cấu tứ, chúng ta phải xét kỹ chủ đề.
Nếu là đề do chúng ta chọn thì dễ khai triển, vì chính chúng ta đã sẵn có ý trước rồi mới có đề. Nhưng nếu là đề của người khác ra, thì chúng ta phải cần phân tách kỹ lưỡng để cho dễ lập ý, cấu tứ và dễ cho tình ý mình phô diễn không bị lệch lạc, không xuất đề, không phản đề.

        Ví dụ đề mục của CỬA BIỂN QUY NHƠN, BÀN THÀNH HOÀI CỔ ... chúng ta nhận thấy trong mỗi đề mục có hai thành phần : Cửa biển và Quy Nhơn, Đồ Bàn và Hoài cổ. Chúng ta phải nhận định xem thành phần nào chính, thành phần nào thứ. Đề mục trước thuộc về cảnh, đề mục sau thuộc về tình. Như vậy thì trong đề mục trước. Cửa biển là chính, đề mục sau Hoài cổ là chính. Nhưng cái gì làm cho Cửa biển chúng ta toan tả đây, mọi Hoài cổ chúng ta toan nói đây, khác với các Cửa biển khác, khác với mối cảm hoài khác ? Chính là Quy Nhơn, chính là Bàn Thành. Chúng ta có thể nói rằng trong đề mục trước, Cửa biển là thân xác, Quy Nhơn là tâm hồn; trong đề mục sau, Hoài cổ là cốt cách, Bàn Thành là tinh thần. Quy Nhơn thêm sắc thái cho Cửa biển, Bàn Thành gây hương vị cho Hoài cổ. Đối với thơ, chính tâm hồn, tinh thần, sắc thái, hương vị mới thật là quý. Cái đáng quý lại để xuống hàng thứ yếu, là nghĩa làm sao ? Nghĩa là thành phần thứ yếu nép ở sau, núp ở trong để làm cho thành phần chính yếu nổi bật. Nói một cách khác, thành phần chính là vua, thành phần thứ là quân sư; thành phần chính là Chủ tịch Chánh phủ, thành phần thứ là Thủ tướng ... Địa vị của quân sư của thủ tướng thấp hơn, nhưng nhiệm vụ lại nặng hơn vua, hơn chủ tịch.
      Khán đề xong, chúng ta mới lập ý, rồi cấu tứ, bố cục. Bài bố phân phối tình ý đâu đó cho chu đáo rồi, chúng ta mới hành văn. Có làm như vậy, bài thơ mới ăn đề, ý tứ mới khỏi lộn xộn, rời rạc, đầu đuôi mới tránh khỏi nạn voi chuột giao duyên ...
Có dịp tôi sẽ nói thêm về các điểm ấy. Bây giờ chúng ta nên trở lại với Thi Đề. 
Chúng ta thấy có nhiều bài thơ được truyền tụng, thân bài không mấy phù hợp với đề bài. Ví dụ bài :

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn.
Gác mái ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ ở Chương đài người lữ thư,
Lấy ai mà giải nỗi hàn ôn.


Đó là tác phẩm của bà Huyện Thanh Quan, một giai thoại được phần đông tao khách tán thưởng. Đề mục, sách nầy chép là CẢNH CHIỀU HÔM, sách khác lại chép là CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ.
      Cả hai thi đề đều không thích đáng. Bởi trong toàn bài gồm có hai ý quan trọng là "giữa đường xa" và "ngày sắp hết". Ông Hư Chu tác giả tập khảo luận "Để hiểu thơ Đường luật", đề nghị gọi là ĐƯỜNG CHIỀU. Tôi đồng ý cùng ông ấy.
Vì sao lại có tình trạng như thế ? Là vì cổ nhân ít thích đặt thi đề. Thường thường hễ hứng đến thì thơ ra. Thơ hoàn chỉnh rồi mới coi mặt đặt tên. Để tiện việc kêu gọi, nhiều khi lấy một vài chữ trong bài mà mệnh danh. Cũng lắm khi thơ được làm mà không được gọi, rồi người sau muốn dễ gọi mới đặt tên theo ý mình. Bài trên đây của bà Huyện Thanh Quan là một bằng chứng cụ thể. Bài nầy bà đã làm trong lúc vào Huế dạy các cung phi theo lệnh vua Tự Đức. 
    Có nhiều bài thơ rất hay mà đề không được ổn đáng, như Thăng Long Thành Hoài Cổ của bà Huyện Thanh Quan, Thu Điếu, Thu Ẩm ... của Nguyễn Khuyến v.v... cần phải chỉnh danh cho hợp lý.

                                                (Theo nguồn văn học cổ) 

Tác giả BBT