THÔNG BÁO

Chuc nam moi.jpgChào năm mới ! 2017
      Năm 2016 đã qua đi theo thời gian và những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ XII  đã thành công rất, rất tốt đẹp, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước. Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất nổi trội....
KHỔ ĐỘC TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
15-02-2017
600_24-9thimau.jpgXin được giới thiệu bài viết của Thi bá Võ Giáp
KHỔ ĐỘC TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
                                                                                           Võ Giáp
     Mấy năm gần đây (nhất là trước các cuộc thi thơ Đường luật), một số người yêu thơ Đường luật hỏi tôi: “Bệnh thơ Đường luật” xuất hiện từ lúc nào? Ai đặt? Có hiệu lực bắt buộc không? Trong khi cha ông ta đã từng bước Việt—hóa thể thơ này! Còn nếu đem các bệnh này mà xét thơ tiền nhân, thì 100% các tác giả xưa ít nhiều ai cũng mắc bệnh!
     Tôi trả lời: Ai đặt và xuất hiện từ lúc nào, tôi không biết. Bệnh có phải là luật bắt buộc không. Theo tôi là không thể, vì không phải là luật, nên không thể dựa vào đó mà bắt bẻ được. Nhưng tránh được một số trong “các bệnh” này, nhiều khi làm cho bài thơ thú vị hơn. Khác với, một bài thơ Đường luật không được phép thất luật, thất niêm, thất vận thất đối (hiện nay có châm chước thất đối); luật thể hiên: Nhị tứ lục phân minh, nhất tam ngũ bất luận.
     Bài này, tôi chỉ bàn về khổ độc. “Khổ” là đắng, là khó chịu nổi, là hoạn nạn, là rất (không có từ “khổ độc” trong từ điển Hán – Việt của Đào Duy Anh). “Khổ độc” là khó đọc, nghe không êm tai - “khổ thính”. Thơ xưa (khi chưa có chữ quốc ngữ), thì cảm thơ qua đọc, qua nghe là chính (kể cả vận). Nhiều khi nghe không thuận tai một chút, nhất là chữ thứ 5 (bất luận), biết đâu lại thâm thúy, thú vị như dấu “xanh-cốp” trong âm nhạc, như chiếc răng khểnh nhiều khi lại có duyên. Luật thơ xưa chặt chẽ là vậy, thế mà cha ông ta vẫn “phá cách” để hợp với tâm hồn, với mạch thơ trong sáng tác.
     Việc 3 chữ đầu câu cùng thanh, mà một số người gọi là khổ độc, tôi cho là không hợp lý, mang tính áp đặt không thực tế. Tôi đã đọc lại những bài thơ Đường luật có 3 chữ đầu câu cùng thanh (mà tôi có) của các nhà thơ đời Đường và hậu Đường, của tiền nhân ta bằng Hán-nôm, các bài thơ Đường luật bằng chữ quốc ngữ, tôi thấy hầu như không khổ độc (theo đúng nghĩa) tý nào, Xin mời các bạn đọc các câu tôi trích (trích vì không đủ điều kiện để ghi lại tất cả),
     1/ Thơ Đường (thơ đời Đường và Hậu Đường bên Tàu) –
 + Nhân sinh hà sự tâm vô định – Đại Lân tẩu ngôn hoài – Bạch Cư Dị.
 + Ngã thị lão ông thính bất úy – Đống dạ văn trùng – Bạch Cư Dị.  
 + Tiền xuyên hoa liễu hộ song linh – Tiểu hạ đình ngẫu thư – Đào Tấn. 
 + Giang phong ngư hỏa đối sầu miên – Phong Kiều dạ bạc – Trương Kế.
 + Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa – Bạc Tần Hoài – Đỗ Mục.
 + Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết – Tuyệt cú – Đỗ Phủ.
 + Ngô cung hoa thảo mai u kính – Đăng Kim lăng – Phượng Hoàng đài – Lý Bạch.
 + Hán thủy hảo sơn khan bất túc – Trì Châu Thúy Vi đình – Nhạc Phi.
 + Đào hoa y cựu tiếu đông phong – Đề Đô Thành nam trang – Thôi Hộ. 
 + Yên ba giang thượng sử nhân sầu – Hoàng Hạc Lâu – Thôi Hiệu.
 + Thiên niên mai cốt bất mai tu – Trang Tử cổ bồn ca (1) – Trang Tử.

   2/ Thơ đường luật Hán – Nôm cuả tiền nhân Việt – 
 + Cách tệ bất năng tỳ quốc chúa – Dạ tọa thính đỗ quyên – Bùi Huy Bích.  
 + Vạn sự thắng tình vô sở vọng – Thuật hoài – Đào Duy Từ.
 +Vô cùng thiên địa nhập hàm ca – Thuật hoài – Đặng Dung. 
 + Tư tình vi thượng quốc gia khuynh – Chức cẩm hồi văn luận – Đoàn Thế Tâm.
 + Y quan văn vật sinh trung thổ - Thượng kinh tự hoài – Lê Hữu Trác.
 + Ngã bất phụ nhân, nhân phụ ngã – Tái kiến cố nhân hữu cảm – Lê Hữu Trác.
 + Xuân giang, xuân thủy, tiếp xuân thiên – Nguyên tiêu – Hồ Chí Minh.
 + Tứ nguyệt bách hoa, khai mãn viên – Mậu Thân xuân tiết – Hồ Chí Minh.
 + Thập Trịnh đệ huynh liên quý hiển – Cao đế anh hùng cái thế danh – Lê ThánhTông.
 + Tằng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên – Khất thực – Nguyễn Du.
 + Chỉ phấn hữu thần liên tử hậu – Độc Tiểu thanh ký – Nguyễn Du.
 + Nam sơn bằng điếu chính du nhàn – Mạn hứng – Nguyễn Khuyến.
 + Phẩm vật nhất thiên kim thế giới – Thu sơn tiêu vọng – Nguyễn Khuyến.
 + Tà dương trao địa tiệt vân yên – Thu thành vãn vọng – Nguyễn Phi Khanh.
 + Uất uất thốn hoài vô nại xứ/ Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh – Quy Côn
 Sơn chu trang tác – Nguyễn Trãi.
 + Kiến thuyết tại gia bần diệc hảo – Hứng quy – Nguyễn Trung Ngạn.
 + Ngọc Diện khởi ưng mai thủy quốc – Tổng vịnh Kiều truyện – Phạm Quý Thích.
 + Niên niên yên cảnh thị sinh nhàn – Kiến Hồ Nhị Thủy dẫn truyện – Phạm Quý
Thích.
 + Tinh di đăng chúc dạ quang huy – Đề tháp báo thiên – Phạm Sư Mạnh.
 + Việt cảnh cáp đương xuân tiết hậu – Như thời đông tác – Tăng Bạt Hổ.
 + Trung hưng văn vận mai Hiên Hy – Trung hưng văn vận – Trần Nguyên Đán.
 + Đại để cổ kim hào kiệt sỹ/ Cương thường luân lý nhất thân kiên - Tổng từ - Tự Đức.
 + Vãn tiết độc tồn trinh bạch tháo/ Hồi giao phu tế tác hàng thần – Độc Thúy Kiều truyện – Cảm tác – Nguyễn Xuân Ôn.
+ Kim triêu hồng tử đấu thiên ban – Lập xuân hậu nhất nhật tân tình. Cao Bá Quát.
 + Tứ hải dĩ thanh, trần dĩ tính/ Kim niên du thắng tích niên du – Hạnh Thiên Trường hành cung – Trần Nhân Tông.
 + Thạch cổ hữu thanh xao dạ nguyệt/ Sa diêm vô vị thấp thu sương – Du Bích Đào động – Lê Quý Đôn.
 + Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu – Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão.
 + Gia bần duy phú cựu thi thư – Xuân đán cảm tác – Nguyễn Bỉnh Khiêm.
 + Đại nhật hữu quang dư bạch phát – Thất thập tự thọ - Nguyễn Văn Siêu.
 + Du du trần mộng thập niên tâm – Đề Hoàng Hạc Lâu – Phan Thanh Giản.
 + Sảng khoái đắc nhân thi thị họa – Đề tranh Kiều – Nguyễn Phan Chánh.    

    3/ Thơ đường luật quốc ngữ -
 + Từ đây nam bắc chia đôi ngả - Ngộ Kim Trọng – Hà Tôn Quyền.
 + Ngán nỗi dấm chua hơn lửa cháy – Giã Thúc Sinh – Hà Tôn Quyền.
 + Ra đi đầu đội muôn phần hiếu – Vịnh Kiều – Đỗ Minh Tâm.
 + Phận bạc ngậm ngùi người chín suối/ Duyên may run rủi  khách ba sinh – Thơ  vịnh Kiều – Chu Mạnh Trinh.
 + Thiện chẳng thấy bày, bày những ác/ Ơn kia không biết, biết chi cừu – Vịnh Kiều – Huỳnh Thúc Kháng.
 + Mặt sắt cũng ngây vì má đỏ - Nhan sắc Thúy Kiều – Huyền Mặc đạo nhân.
 + Lâm Tri, Vô Tích bao nhiêu sự - Thúc Sinh – Tản Đà.
 + Cái số đoạn trường sao quá lạ - Lúc ra tu chùa Hoạn Thư – Tản Đà.
 + Phòng loan cung cấm đà bao thuở - Khóc Kiều – Trần Huy Liệu.
 + Hạt bụi nhớ quên lòng đại khối – Cảm đề Đoạn trường tân thanh – Vũ Hoàng Chương.
 + Quanh năm buôn bán ở mom sông – Thương vợ - Tú Xương.
 + Một vốn bốn lời mong có lãi – Vay nợ sư không được – Tú Xương.
 + Tu mi không lẽ phụ quần thoa – Vì sao?  Vũ Khiêu.
 + Tuổi mới bảy mươi chẳng phải già/ Đường thi năm tháng đã xông pha – Cầu mong – Hoài Yên.
 + Cứu nước nức lòng đoàn phụ lão/ Thù nhà nung chí lớp trai tân – Thơ là vũ khí – Nguyễn Đức Hùng.
 +  Cam Đoài, khoai Rộ răng ngon rứa? – Về Xứ Nghệ - Nguyễn Văn Thụ.
 + Ban mai thoang thoảng xôn xao gió – Thăm mộ cụ Tú Xương – Trần Bửu Lâm.
 + Hương mờ mà sắc nhuộm trời đông – Trà mi – Võ Giáp.  
 + Hậu thế khắc ghi từng nét chữ - Trước mộ cụ Trần – Đức Thọ.
 + Ba mươi năm nữa đến mười mươi – Đón 70 – Nguyễn Thị Kim Tuyên.
 +  Quê hương thương nhớ vì non nước – Đền thờ Bà mẹ anh hùng – Châu Sương (Gương mặt hội viên trong “Chuyên san” của Hội).
 + Hồn nhiên vui sống giữa vô thường – Lá thức – Vạn Lộc (Gương mắt hội viên trong “Chuyên san” của Hội).

    4/ Câu thơ có vận và 3 chữ đầu cùng thanh trắc – 
 + Hán thủy diệc ưng tây bắc lưu – Giang Thượng ngâm – Lý Bạch.
 + Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai – Hồi hương ngẫu thư – Hà Tri Chương.
 + Ngọc uyển thịnh lai hổ phách quang – Khách trung tác – Lý Bạch.
 + Ngã tiếu thế nhân khống đoạn trường – Trang Tử cổ bồn ca (2) – Trang Tử.
 + Tứ nguyệt bách hoa khai mãn viên – Mậu Thân xuân tiết – Hồ Chí Minh.
 + Nhất kính cổ tùng sơ trụy hoa – Cam Lộ tự - Trần Mạnh.
 + Bệnh dũ bất như do bệnh thì – Bất mị - Trần Nguyên Đán.
 + Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền – Ngư  nhàn – Không Lộ thiền sư.
 + Phá ốc sổ gian Lư Ngọc Xuyên – Ngụ hứng – Nguyễn Bỉnh Khiêm.
 +Đức tính lạc quan của Bác hồ - Cảm đề “Ngục trung nhật ký”. Tôn Thất Viễn Bào.
 + Bắt lũ ngoại xâm phải cúi đầu – Công ơn Bác – Nguyễn Đang.
 + Chiến thắng Bác về núi tạnh mây – Bác về đền Hùng – Trần Ngọc Đồng. 
 + Đặc lợi, đặc quyền chớ có mê – Bài học quý – Phạm Hậu.
 + Tổ quốc Việt Nam hưởng phúc nhiều – Về quê Bác – Trần Thị Khánh Luyến.
 + Độc lập, tự do trọng lẽ thường – Nghìn năm nhớ Bác – Lại Cao Mùi.
 + Ướt đẫm lệ tràn, khóc, Bác ơi! – Trong mưa khóc Bác – Nguyễn Phương Nam.
 + Vẹn nghĩa, ven nhân, vẹn đức tài – Bác Hồ - Tạ Anh Ngôi.
 + Tiếng vọng vọng xa với đất trời – Xuân nhớ Người – Dương Thái Sơn.
 + Học tập tấm gương đạo đức Người – Nhớ Bác – Nguyễn Phước Tảo.
 = Bốn biển ngợi ca trí sáng ngời – Kính dâng Người – Nguyễn Đức Thọ.
  . . .
    Qua những câu thơ trên, dù là 3 thanh bằng hay 3 thanh trắc đầu câu (kể cả câu có vận), ta thấy không hề khổ độc hay khổ thính (nếu có chỉ là hạn hữu), không nên quy nạp thành “bệnh” cho nặng nề. Theo Giáo sư Dương Quảng Hàm : Khổ độc nghĩa là khó đọc … Tuy theo thể bất luận có thể thay đổi luật mấy chữ trong câu thơ, nhưng đáng trắc mà đổi ra bằng thì bao giờ cũng được, chứ dáng bằng mà đổi ra trắc (t t b b t t b – câu có vận) thì trong vài trường hợp , sự thay đổi ấy làm cho câu thơ khổ độc … (Văn học  Việt Nam). Thực tế, trong các sáng tác được công bố, ta chỉ thấy nghe không thuận một chút khi: Chữ thứ 4 và 7, chữ thứ 1 (hay 2) và 7, chữ thứ 5 và 6 trong một câu cùng dấu huyền.
     Vậy, khi 3 chữ đầu câu cùng là thanh bằng hay thanh trắc (kể cả câu có vận), không hẳn là khổ độc, không nên gọi là bệnh.
                                                                                     
                                                                                Võ Giáp
                                                                Xuân Hội. Nghi Xuân. Hà Tĩnh
                                                                            0973 595 53

Tác giả BBT