THÔNG BÁO

Chuc nam moi.jpgChào năm mới ! 2017
      Năm 2016 đã qua đi theo thời gian và những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ XII  đã thành công rất, rất tốt đẹp, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước. Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất nổi trội....
Bàn về hai từ Bác học trong thơ Đường luật
20-07-2016

hoa quynh. F.jpgXin giới thiệu bài viết của Quế Sơn Du Tử

                        BÀN VỀ HAI TỪ BÁC HỌC TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT

 

     Nếu chỉ nói về hai chữ bác học (học rộng hiểu sâu) trong thơ Đường luật thì nghe quả là mơ hồ. Cái nghĩa (học rộng hiểu sâu) ở đây được áp dụng trong thơ Đường luật ra sao, như nào cũng cần phải được nghiên cứu và làm rõ.

     Từ xưa thơ luật đường được mệnh danh là loại thơ bác học. Các thi nhân xưa nay làm thơ theo thể luật đường cũng vẫn tự hào riêng về một điểm ấy. Nhưng nói đến hai chữ bác học, hỏi có bao nhiêu cây bút viết được dòng thơ đó và cũng có bao thi nhân hiểu được điều đó là như thế nào?

     Thơ bác học theo tôi: Đây là một thể thơ ngắn gọn mà đầy ý nghĩa súc tích. Nó bao hàm được sự uyên bác cổ kim và cũng cô đúc được nội dung to lớn. Chứa đựng được nhiều hình ảnh thâm sâu mà thầm kín, đưa đến có những câu thơ mà người đọc hiểu nghĩa đen và nghĩa bóng đảo ngược đa chiều.

     Người xưa làm thơ là “ý tại ngôn ngoại” lời thơ là một vấn đề nhưng ý của câu thơ đó lại là một vấn đề khác.

     Thí dụ: bài Thằng mõ của vua Lê Thánh Tông

     Mõ này cả tiếng lại dài hơi / Mẫn cán ra tay chẳng phải chơi / Mộc đạc vang lừng trong mấy cõi / Kim thanh chuyển động khắp bao nơi / Trẻ già chốn chốn đều nghe hiệu / Làng nước ai ai cũng cứ lời / Thứ bậc dưới trên quyền sắp đặt / Một mình một chiếu thảnh thơi ngồi.

       Bài thơ chính xác là tả thằng mõ, nhưng trong bức họa tuyệt tác này ý tứ hàm xúc – sâu sắc, uyên bác và thâm thúy. Người đọc dễ cảm nhận như là tả một ông vua. Lời thơ tuy giản dị nhưng lại rất kín đáo, ý thơ trong sáng và rất là tinh tế.

     Bài Ông phỗng đá của Nguyễn Khuyến:

     Ông đứng làm chi đó hỡi ông / Trơ trơ như đá vững như đồng / Đêm ngày gìn giữ cho ai đó / Non nước vơi đầy có biết không. Bài thơ là tả ông phỗng đá mà chỉ có phỗng đá mới trơ trơ, phỗng đá lại nặng nên mới vững như đồng. Nhưng non nước vơi đầy ở đây tác giả đã ám chỉ vào ai đó chứ đá có biết gì mà hỏi. Bài Ông phỗng đá này theo tôi cũng thuộc loại “ý tại ngôn ngoại”

         Bài cây bắp (không rõ tác giả)

     Luống chịu ba trăng trấn cõi bờ / Hiềm vì thương chút chúng dân thơ  / Nương oai tích lịch ôm con đỏ / Vâng lệnh nam phong phất ngọn cờ / Miễn đặng an nhà cùng lợi nước / Chi nài dãi gió lại dầm mưa / Biển hồ dầu lặng tăm kình ngạc / Giải giáp một phen chúng thảy nhờ.

         Bài thơ là tả cây bắp toàn ý tứ là tả cây bắp nhưng câu thơ thứ 3 “Nương oai tích lịch ôm con đỏ” nghĩa là đầu mùa xuân có sấm sét (tích lịch là sấm sét) cấy bắp mọc ra bắp non bọc trong nách cây như người mẹ ôm con (nhưng ở đây chiều sâu của câu thơ ý nói thương dân như con đỏ). Ở câu thơ thứ 4: “Vâng lệnh nam phong phất ngọn cờ” khi cây bắp trổ bông là lúc có gió nam thổi đến làm cho bông bắp bay phấp phới như ngọn cờ. Nhưng ở đây lại có ý ngầm là phất cờ khởi nghĩa. Câu thơ thứ 7: “Biền hồ dầu lặng tăm kình ngạc” ý nói cá kình ở ngoài bể im lặng không quẫy sóng nữa. Đây là điều mong muốn đất nước yên ổn thái bình. Và câu thơ thứ 8 (câu thơ kết): “Giải giáp một phen chúng thảy nhờ” tức là mùa thu hoạch bóc vỏ bắp ra để lấy trái bắp bên trong. Nhưng lại có ý ngầm là nói về quân sỹ cởi áo giáp ra nghỉ ngơi sau khi đánh thắng giặc. Bài thơ này tả cây bắp nhưng khi độc giả đọc bài thơ trên thì lại thấy ý tứ của nó khác hẳn. Vậy “ý tại ngôn ngoại” phải chăng là tính chất bác học trong thơ Đường luật.

     Hai nữa điển tích trong thơ cũng là một vấn đề làm cho thơ càng bác học. Thơ bác học là thơ có chiều sâu, có ẩn ý. Dùng điển tích trong thơ thì làm cho câu thơ càng có chiều sâu hơn. Khi độc giả đọc đến câu thơ đó họ phải bóp đầu suy nghĩ, nghiền đi và ngẫm lại. Tìm tòi ý nghĩa của các điển tích mà tác giả đã vận dụng đưa vào thơ. Nó hợp cảnh hay trái cảnh, nó thuận tình hay bất thuận tình. Trong “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du có 3256 câu thơ nhưng có lẽ (tôi chưa kiểm chứng chính xác) có tới 2500 câu thơ là dùng điển tích. Thơ xưa, thơ của người xưa là phải dụng điển vì cổ nhân đã nói: “vô trưng bất thi” nghĩa là không trưng dụng được điển tích thì không phải người thơ. Ở việc dụng điển này cũng chứng minh những người cầm bút cũng là những con người bác học. Ngày xưa những người học trò đi học thì phải học đủ: tứ thư – ngũ kinh – bách gia chu tử …v.v, phải thông kim bác cổ. Thế nên thơ phú của thời xưa, của người xưa là nhiều hay ít đều gắn bó điển tích trong đó. Danh từ bác học này là của người xưa đặt ra, vậy suy ra thơ phú xưa phải có chiều sâu đích thực. Chiều sâu ở đây chắc hẳn phải có 2 điểm cốt yếu là: “ý tại ngôn ngoại” và “điển tích”.

    

 

          Hoài Yên nhà thơ nhà nghiên cứu viết trong một số vấn đề lý luận và thực tiễn thơ truyền thống Việt Nam đương đại có đoạn: “thơ Đường luật vốn là một thể thơ giàu tính tượng trưng khái quát, ẩn dụ. Dùng ít lời mà nói được nhiều ý. Thậm chí “ý tại ngôn ngoại” vì vậy các từ tượng trưng, các điển tích, từ Hán Việt nếu khéo sử dụng sẽ tăng sức hàm chứa cho mỗi bài thơ”.

     Thái Bá Chu NT CLB Thăng Long Hà Nội đã lấy ở lịch đại thi thoại viết: “phàm là thơ thì kị nhất là nông cạn và lộ liễu”

     Nhà thơ Đỗ Đăng Hành trong bài phát biểu tại ngày hôi thơ Đường VN lần 7 tại Hạ Long Quảng Ninh. Ông nói: ‘Trong một thời gian dài đã thấm quá sâu cách viết dễ dãi, minh họa ý tưởng rõ ràng khúc triết. Đọc thơ ai cũng hiểu như nhau mà quên đi cái bản ngã của thơ là “ý tại ngôn ngoại”. Thơ Đường luật phục hồi phần nào lập lại sư cân bằng. Song chúng ta vẫn chưa thoát khỏi cách nghĩ, cách viết đơn giản. Đã đến lúc cần nghiêm túc đề cập đến chất lượng sáng tác’.

     Ở đây rất nhiều nhà thơ như: NT Đỗ Đăng Hành, NT Trần Thuận Ninh và nhiều nhà thơ khác cũng đã thừa nhận đối với thơ Đường nó gò bó câu chữ, niêm luật, đối ngẫu. Mà đã viết thơ Đường là thừa nhận sự ràng buộc sự nghiệt ngã đó, những áp lực không dễ vượt qua. Ngày nay thi nhân rất muốn đổi mới nó, không biết vì nó khó làm hay vì một lý do nào đó. Họ chỉ muốn giữ lại cái bình (vỏ) mà muốn thay rượu mới (chất liệu) vào. Thiết nghĩ chiếc bình cũ và rượu cũ đã ngon đã trở thành bác học. Ngày nay muốn giữ lại bình và châm rượu mới vào. Thiết tưởng thứ rượu mới phải ngon hơn hay bác học hơn. Chứ cái “ý tại ngôn ngoại” của cổ xưa lại bỏ đi, lối viết lại đơn giản hơn dễ dãi hơn. Sự thông kim bác cổ không có thì chẳng hóa ra bác Hoài Yên đã nói đó là một sự phú quý giật lùi.

        Ngay như GS Nguyễn Khắc Phi khi phân tích về thơ Đường ông cũng đã nói:‘Chỉ ra chỗ phạm luật hay phá luật không khó. Khó là xác định ranh giới ở đâu, để khi vượt qua ranh giới đó thì không nên gọi là thơ Đường luật nữa. Khi cùng với cố  PGS Lê Đức Niệm tham gia sưu tầm biên soạn cuốn thơ Đường xứ Nghệ do NXB Đai học QG xuất bản. GS Nguyễn Khắc Phi đã không đồng ý với PGS Lê Đức Niệm ở 2 điểm: một là tên sách không thể hiện nội dung xác định. Hai là khi tuyển chọn đã đưa vào cả những bài phạm luật quá nhiều, nên không gọi đó là thơ Đường nữa. Ở đây GS chỉ nói sơ qua về thơ Đường, chứ GS chưa nói kĩ về vấn đề uyên thâm, bác học của nó. Vấn đề phạm luật cũng đã bị loại bỏ. Vậy thơ Đường (thơ bác học) đạt ở mức nào? Tiêu chí ra sao và sự đổi mới cái nguyên lý cổ điển xưa ra sao đúng là một câu hỏi.

     Vâng thưa các nhà thơ theo tôi thơ Đường luật là dòng thơ bác học. Dòng thơ bác học này ngày nay đang được bảo tồn và phát triển. Bảo tồn và phát triển là làm sao phải giữ được cái nguyên lý của người xưa. Sự làm sáng đẹp cho cái nguyên lý đó là một điều rất tốt. Nhưng sự hiểu biết như nào và làm sáng đẹp cái nguyên lý của cồ xưa ra sao là điều chúng ta cần phải bàn cho kĩ. Thái Bá Chu CLB thơ HN nói: ‘thơ là bể học, để khám phá được bí quyết sự thành công sáng tác cần học tập kinh nghiệm của tiền nhân là: phải tự thôi xao và cùng đàm đạo. Thì điều chưa biết sẽ biết, điều biết rồi sẽ biết thêm, điều hiểu sai sẽ được hiểu đúng’. Ngày xưa Khổng Tử dạy học trò cũng đã nói: bác học – thẫm vấn – thận tư – minh biện và đốc hành. Nghĩa là: học rộng – hỏi kĩ – nghĩ chín – bàn chẻ và dốc sức làm. Để kết thúc bài viết tôi xin gửi tới quý vị cùng các nhà thơ bài thơ có tựa:

                                     

                                        GỞI TẤC TÂM THÀNH

 

                                      “Lạc nhật thâm sơn bạn lữ hy”

                                      Học người Bá – Thúc kiếm rau Vi

                                      Gác chân cười kiếp thân bào ảnh

                                      Chôn chữ thương đời kẻ bất tri

                                      Xuất xử nào ham dương bảo cái

                                      Hành tàng cho đáng lụy đan trì

                                      Mà nay nham huyệt đa nhân ẩn

                                      Gởi tấc tâm thành tới luật thi .

 

                                                              23/2/2016

                                                                        Quế Sơn Du Tử (Lê Công Bường)

                                                                        ĐT: 0918515430

       

Tác giả BBT