THÔNG BÁO

Chuc nam moi.jpgChào năm mới ! 2017
      Năm 2016 đã qua đi theo thời gian và những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ XII  đã thành công rất, rất tốt đẹp, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước. Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất nổi trội....
THƠ DỊCH CỦA CÁC TÁC GIA VIỆT NAM
19-10-2014
hoahongdobo.jpg                       Thơ dịch của các tác gia Việt Nam do dịch giả Phạm Đình Nhân thực hiện
                         Nhà văn Ngọc Châu biên tập và dịch bổ xung xin trân trọng giới thiệu

   13. NGUYỄN PHI KHANH

(1355 – 1428)

 

       Nguyễn Phi Khanh tên thật là Nguyễn Ứng Long, hiệu là Nhị Khê, đến đầu đời nhà Hồ ông đổi là Nguyến Phi Khanh. Ông sinh năm 1355 tại xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Nam Thượng, nay là huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Nguyễn Phi Khanh sinh ra vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Thời trẻ, Phi Khanh từng ở nhà quan Tư đồ Trần Nguyên Đán dạy học cho con gái, sau được Trần Nguyên Đán gả con gái cho. Đầu triều Hồ được bổ làm Học sĩ Viện Hàn lâm rồi thăng lên Thông Chương đại phu, Đại lý tự khanh kiêm Trung thư thị lang, Tư nghiệp Quốc tử giám. Năm 1407, nhà Minh xâm lược, Nguyễn Phi Khanh bị bắt đem về Kim Lăng. Đến biên giới, ông khuyên các con trong đó có Nguyễn Trãi ở lại tìm kế báo thù , Ông mất năm 1428 tại Trung Quốc thọ73 tuổi. Tác phẩm có : Nhị Khê thi tập, Nguyễn Phi Khanh thi văn.

 

67. TỊ  KHẤU  SƠN  TRUNG

Nguyên tác :                      

            

            

            

            

            

            

      怀      

            

 

Phiên âm:         Tị khấu sơn trung

Sơn phòng tận nhật tuý hôn hôn,

Thế lộ nan nguy lãn xuất môn.

Lục dật từ thân thiên lý cách,

Lưỡng niên khấu loạn nhất thân tồn.

Phong trần thiên địa không tao phát,

Yên chướng lâm nan chỉ đoạn hồn.

Mạn hữu thôn hoài lao cảnh cảnh,

Dạ y Ngưu Đẩu vọng trung nguyên

Dịch thơ:         

                    Lánh giặc trong núi

                                

                                   Phạm Đình Nhân

                         Dịch 2008

 

Hang núi bao ngày sống lắt lay,

Đường đời nguy cấp, biết sao đây

Mẹ già sáu chục xa ngàn dặm,

Loạn lạc hai năm một cõi này.

Trời đất bụi trần phai mái tóc,

Rừng thiêng lam chướng đứt hồn thây.

Lòng đầy thương nhớ quê canh cánh,

Đêm tựa Đẩu Ngưu ngóng thức mây

 

         

         Vào núi tránh giặc                

                              

                                Ngọc Châu

                      Dịch 2013

 

Ngày ngày trong núi lánh mình

Ngoài đời nguy hiểm dập rình khó ra

Mẹ già sáu mươi cách xa

Hai năm loạn lạc mình ta chốn này

Bụi trần bạc tóc, thân gày

Lam sơn chướng khí hồn thây khó toàn

Nhớ quê canh cánh gian nan

Đẩu Ngưu trông ngóng trời an mây lành.

 

14. NGUYỄN TRÃI

(1380 – 1442)

Nguyễn Trãi, nhà văn hóa lớn của dân tộc và của thế giới, hiệu Ức Trai, quê làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, phủ Quốc Oai, trán Sơn Nam thượng, nay là huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Đỗ Thái học sinh đời nhà Hồ năm Canh Thìn (1400) lúc 20 tuổi. Sau tham dự cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi. Được liệt vào hàng Đại Phu, tước Quan Phục Hầu. Bị gian thần dèm pha và vu cáơ, ông bị giết với cả 3 họ năm Nhâm Tuất (1442). Sang đời Lê Thánh Tông, ông được giải oan và được truy phong Tế Văn hầu. Ông là tác giả của Bình Ngô Đại cáo và nhiều tác phẩm khác như Quân trung từ mệnh tập, Ức trai dư địa chí, Ức trai di tập, Quốc âm thi tập, Ngọc Đường di cảo, Gia huấn ca …

68.THẦN PHÙ HẢI KHẨU

 

Nguyên tác :                        

                            

                               

                               

                               

            

                               

                               

                               

 

Phiên âm:             Thần Phù hải khẩu

Cố quốc quy tâm lạc nhạn biên,

Thu phong nhất diệp hải môn thuyền

Kình phun lãng hống lôi nam bắc,

Sáo ủng sơn liên ngọc hậu tiền.

Thiên địa đa tình khôi cự tẩm,

Huân danh thử hội tưởng đương niên.

Nhật tà ỷ trạo thương mang lập,

Nhiễm nhiễm hàn giang khởi mộ yên.

Dịch thơ :             

                    Cửa biển Thần Phù

 

                                   Phạm Đình Nhân

                         Dịch 2000

 

Chốn cũ tâm về cánh nhạn mau,

Gió thu một lá  hải thuyền đâu?

Kình phun sóng vỗ gầm nam bắc,

Giáo dựng non bầy ngọc trước sau.

Thiên địa đa tình khoe sắc lớn,

Công danh mở hội nhớ năm nào(1)

Chiều tà tựa mái bâng khuâng đứng,

Sóng lạnh run trong khói nhiệm màu.

 

 

Cửa biển Thần Phù                               

 

                                   Ngọc Châu

                         Dịch 2013

 

Nước cũ cánh nhạn vội về

Hải thuyền một lá tràn trề gió thu

Kình phun nam bắc sóng mù

Trước sau dựng giáo núi tù ngọc xanh

Thiên nhiên khoe sắc đa tình

Hội ghi công chắn sóng kình năm nao

Chiều tựa  mạn bâng khuâng sao

Khói chiều se lạnh cồn cào con tim. 

 

 

69. CHU TRUNG NGẪU THÀNH KỲ 1

 

Nguyên tác:       

雨 後 春 潮 漲 海 門 
天 風 吹 起 浪 花 噴
 
半 林 殘 照 篩 煙 樹
 
隔 水 孤 鐘 搗 月 村
 
風 景 可 人 詩 入 畫
 
湖 山 滿 目 酒 盈 樽
 
舊 遊 歷 歷 余 曾 記
 
往 事 重 尋 只 夢 魂

Phiên âm:       Chu trung ngẫu thành

            Vũ hậu xuân triều trướng hải môn, 
            Thiên phong xuy khởi lãng hoa bồn. 
            Bán lâm tàn chiếu si yên thụ, 
               Cách thủy cô chung đảo nguyệt thôn. 
            Phong cảnh khả nhân thi nhập hoạ, 
            Hồ sơn mãn mục tửu doanh tôn. 
            Cựu du lịch lịch dư tăng ký, 
            Vãng sự trùng tầm chỉ mộng hồn

Dịch thơ:    

                     Trên thuyền ngẫu hứng thành thơ

 

                                   Phạm Đình Nhân

                         Dịch 2011

 

Mưa ngớt triều dâng sóng biển lên

Gió bay  thổi cuốn sóng hoa tiên   

Bên rừng nắng chiếu cây nghiêng ngả

Dưới bến chuông ngân bóng nguyệt rền
Phong cảnh giúp người thơ với họa

Núi hồ thỏa mắt rượu thêm men

Cuộc chơi ngày ấy nay còn nhớ

Việc cũ dường như giấc mộng hiền

 

                    Ngẫu hứng trên thuyền

 

                                   Ngọc Châu

                         Dịch 2013

 

Mưa ngớt triều dâng sóng lên

Gió bay bay thổi hoa tiên bọt trào

Ngả nghiêng rừng, nắng chiếu vào

Chuông ngân bóng nguyệt đẹp sao bến đò

Thiên nhiên tạo ý  nhạc, thơ

Hồ xanh, núi biếc men chờ khách say

Cuộc vui ngày ấy đến nay

Nhớ hoài như giấc mộng say đêm lành.

 

15. NGUYỄN BỈNH KHIÊM

(1491 – 1585)

 

       Nguyễn Bỉnh Khiêm, danh sĩ đời nhà Mạc, tự là Hanh Phu, hiệu Bạch Vân cư sĩ. Ông còn có tên khác là Văn Đạt. Ông quê làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại , nay là huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Năm 1535 ông đỗ Trạng nguyên lúc 44 tuổi. Làm quan đến Tả thị lang Bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ. Sau 8 năm làm quan ông xin về trí sĩ năm 1542, về làng làm nhà gọi là Bạch Vân am, mở trường dạy học bên giòng sông Hàn (Hàn Giang), còn có tên là Tuyết Giang, vì thế còn gọi ông là Tuyết Giang Phu tử. Tinh thông lý học và tướng số. Dù đã về hưu, Mạc Phúc Hải vẫn tỏ lòng kính trọng, phong ông tước Trình Tuyền Hầu (1544), rồi lại thăng ông là Thượng thư Bộ Lại, tước Trình Quốc công, do đó nên thường gọi là Trạng Trình. Năm 1585 ông mất, thọ 94 tuổi. Thơ văn còn truyền tụng có Bạch Vân thi tập gần 200 bài vừa quốc âm vừa Hán văn.

 

                      70.  XUÂN  HÀN

Nguyên tác :                      

            

            

            

                                 

             

            

            

        滿    

 

Phiên âm :             Xuân hàn

Thập nhị thiều quang[1] xuân nhất đoàn,

Nhất thiên liệu tiễu tống dư hàn.

Khinh âm tá vũ xâm hoa dị,

Tàn tuyết nhân phong truỵ liễu nan.

Tú thát giai nhân đê ngọc trướng,

Hương nhai tuý khách xúc kim an[2].

Toàn kiền tự hữu thần công tại,

Dĩ bá dương hoà mãn tế bàn[3].

Dịch thơ :          

               Rét mùa xuân

 

                                    Phạm Đình Nhân

                         Dịch 2007

Xuân sang nay đã mười hai

Tiễn đưa cái rét một mai ấm dần.

Trời râm nhờ có mưa dầm,

Tuyết tan gió cuốn phủ dần liễu dương.

Giai nhân màn gấm rủ buông,

Ngoài kia thơm nức, khách vương vấn gì?

Càn khôn xoay chuyển một khi,

Khí dương reo khắp chu vi đất trời

 

                        Rét xuân

 

                                   Ngọc Châu

                                   Dịch 2013

 

Sang xuân đã quá mười hai ngày

Tiễn rét đi chờ ấm đến đây

Trời ẩm mưa phùn gày bóng liễu

Tuyết tan gió cuốn mỏng màn mây

Giai nhân buông rủ màn hoa thắm

Lãng khách tơ vương hương đượm bay

Xoay chuyển càn khôn vào tiết mới

Khí dương bao phủ cả trời này.

 

TDHN

 

16. LÊ QUÝ ĐÔN

(1726 – 1784)

 

          Lê Quý Đôn, nhà văn hoá lớn của Việt Nam thời Hậu Lê, thuở nhỏ có tên là Lê Danh Phương, tự Đoãn Hậu, hiệu Quế Đường. Quê thôn Duyên Hà, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình. Năm 1743 ông đỗ Giải nguyên, năm 1752 đỗ Bảng Nhãn. Được bổ là Hàn lâm thị độc, Tư nghiệp Quốc Tử giám. Năm 1760 làm Phó sứ đi Trung Quốc, sau khi về được phong tước Dĩnh Thành Bá rồi thăng Hàn lâm viện thừa chỉ, Đốc đồng Hải Dương. Sau chuyển về kinh làm Tổng tài Quốc sử quán. Năm 1773 làm Phó đô ngự sử, rồi thăng Hữu thị lang bộ Công, Bồi tụng. Năm 1776 được cử làm Tham thị Tham tán quân cơ các đạo Thuận Hoá, Quảng Nam. Sau đó về Thăng Long làm Hành Tham tụng tước Dĩnh Thành Hầu.

Ông mất ngày 2.6.1784, thọ 68 tuổi. Sau khi mất được truy tặng Thượng thư bộ Công, tước Dĩnh Thành Công. Lê Quý Đôn là một học giả uyên bác. Ông để lại nhiều tác phẩm có giá trị về các bộ môn lịch sử, địa lý, văn học, ngôn ngữ học, triết học v.v…

Các tác phẩm chính gồm : Quốc sử tục biên, Đại Việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Quần thư khảo biên, Xuân thu lược luân, Bắc sử thông lục, Toàn Việt thi lục, Vân Đài loại ngữ, Quế đường văn tập, Dịch kinh phủ thuyết, Kiến văn tiểu lục, Danh thần lục, Thư kinh diễn nghĩa, Toàn Việt văn tập, Hoàng Việt văn hải, Quế Đường thi tập và một số thơ, phú bằng chữ Nôm.

 

71. ĐỘ XƯƠNG GIANG

 

Nguyên tác  :               

            

            

    绿        

            

            

            

            

            

 

Phiên âm :                  Độ Xương Giang[4]

Thiên cổ  quan hà hệ yếu xung,

Hành xuân bằng diểu vấn đông phong.

Yên tình lục dã tân dư trưởng,

Sương lãnh hoang viên cựu luỹ không.

Đới lệ[5] viễn tồn khai quốc liệt,

Kỳ thường[6] cận kỷ tĩnh phân công.

Thần kinh chỉ xích tần hồi vọng,

Vạn lý tường vân nhất đoá hồng

 

Dịch thơ :       

              Qua sông Xương Giang

 

                                    Phạm Đình Nhân

                          Dịch 2007

 

Sông, ải từ xưa vốn hiểm nguy,

Gió đông theo nhẹ bước xuân đi.

Khói tan đồng đất màu xanh thắm,

Sương lạnh, vườn hoang, luỹ cũ suy.

Dựng nước hiển vinh còn mãi mãi,

Công lao ghi dấu ấn quân kỳ.

Kinh thành trông ngóng trong gang tấc,

Rực ánh mây hồng ta bước đi

 

Vượt  Xương Giang

 

                                    Ngọc Châu

                                    Dịch 2013

 

Hiểm nguy sông ải xưa nay

Gió đông theo bước chân này nhẹ trôi

Khói tan, đồng xanh ngời ngời

Vườn hoang, sương lạnh, lũy thời tiêu hao

Hiển vinh dựng nước xiết bao

Công lao còn khắc đài cao quân kỳ

Kinh thành chờ tiếng ta đi

Mây hồng theo bước uy nghi đang về.

 

72. THÔN XÁ DẠ TOẠ

 

Nguyên tác :               

            

            

            

            

Phiên âm :            Thôn xá dạ toạ

Quyên quyên tân nguyệt chiếu đình giai,

Ái thử thanh tao khiếp tố hoài.

Tất bát tác thang liêu đại minh,

Đăng tiền ẩn kỷ khán Tề Hài

 

Dịch thơ :      

 

               Đêm ngồi nhà trong xóm quê

 

                                    Phạm Đình Nhân

                                    Dịch 2007

 

Đêm ở xóm quê

 

                                    Ngọc Châu

                                    Dịch 2013

 

Nguyệt tỏa sáng ngời khắp khoảng sân

Thanh tao quá khiến dạ lâng lâng

Li trà lá lốt khoan thai nhấp

Đọc sách Tề Hài chuyện thế nhân.

                   (còn tiếp lần 10)



(1)

 

Tác giả BBT