THÔNG BÁO

Chuc nam moi.jpgChào năm mới ! 2017
      Năm 2016 đã qua đi theo thời gian và những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ XII  đã thành công rất, rất tốt đẹp, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước. Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất nổi trội....
THƠ DỊCH CỦA CÁC TÁC GIA VIET NAM
02-08-2014
Bo song.jpg 

THƠ ĐƯỜNG DỊCH CỦA CÁC TÁC GIA VIỆT NAM

 Do dich giả Phạm Đình Nhân thực hiện

        Nhà văn Ngọc Châu biên tập và dịch bổ xung

 

 

8. NGUYỄN TRUNG NGẠN

(1280 – 1370)

Nguyễn Trung Ngạn, danh sĩ  đời Trần Anh Tông, tự Bang Trực, hiệu Giới Hiên, quê thôn Thổ Hoàng nay thuộc huyện Ân Thi, Hưng Yên. Ông đỗ Hoàng giáp năm Giáp Thìn (1314) khi mới 15 tuổi. Làm quan đến chức An phủ sứ Nghệ An, Giám tu Quốc sử ở Viện Quốc sử, thăng chức Hành Khiển. Ông làm quan trải 5 đời vua, được phong Đại học sĩ trụ quốc, tước Khai Huyện Bá, rồi Thân Quốc Công, là tác giả Giới Hiên thi tập,  ông cùng Trương Hán Siêu soạn sách Hoàng Triều đại điển và bộ Hình luật thư. Mất năm Canh Tuất (1370), hưởng thọ 81 tuổi.

 

 

60. THẦN ĐẦU CẢNG VÃNG BẠC

Nguyên tác :            

                                 

                                 

                                 

                                   

                                   

                                   

                                  

                                   

 

Phiên âm :     Thần Đầu[1] cảng vãng bạc

            Ba dao nhật cước tán hà hồng,

            Vô hạn ngư gia lạc chiếu trung.

            Nhất thủy bạch tòng thiên thượng lạc,

            Quần sơn thanh đáo hải môn không.

            Long quy động khẩu tinh sinh vụ,

            Kình phún triều đầu mộ khởi phong.

            Độc phiếm lan chu quan hạo đãng,

            Hốt nghi thân tại lạn ngân cung.

Dịch thơ :

            Đậu thuyền cửa biển Thần Đầu

                                      Phạm Đình Nhân

                                                Dịch 2000

 

Sóng biển tung bay tán sắc hồng,

Xóm chài chen chúc ở ven sông.

Nước trong tự trời tuôn như ngọc,

Ngàn biếc tràn lan cửa biển không.

Rồng về cửa động sương mù mịt,

Kình phun ngọn sóng gió mênh mông.

Thuyền lan một lá trông như vẽ,

Tưởng ở cung Ngân buổi sớm hồng.

 

 

Cửa biển Thần Sầu

 

                                                       Ngọc Châu

                              Dịch 2013

 

Sóng tung tán ánh sắc hồng

Chen  nhau ngụ ở ven sông xóm chài

Nước tuôn như ngọc tự trời

Núi giăng khắp chốn biển khơi mịt mù

Rồng về cửa động sương mơ

Kình phun sóng dữ xa bờ mênh mông

Thuỳền lan một lá xuôi dòng

Tưởng như một sớm mai hồng cung Ngân.

 

 

9. CHU VĂN AN

(1292 – 1370)

 

            Chu Văn An chính tên là Chu An, tự là Linh Triệt, hiệu là Tiều Ẩn. Ông sinh ngày 25.8.Nhâm Thìn (1292) tại làng Vân, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm, sau đổi là huyện Thanh Trì, Hà Nội. Thời trẻ ông học giỏi, lúc đầu không ra làm quan. Đời Trần Minh Tông, ông làm Quốc tử giám Tư nghiệp, dạy các con vua. Đời Trần Dụ Tông, ông dâng sớ xin chém đầu bảy tên gian thần, vua không nghe, ông từ chức về ở núi Phượng Hoàng, làng Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, Hải Dương, dậy học. Năm 1370, ông mất, Trần Nghệ Tông ban tên thuỵ là Văn Trinh, hiệu Khang Tiết, thờ ở Văn Miếu. Tác phẩm của ông gồm Tứ thư thuyết ước, Tiều Ẩn thi tập, Quốc âm thi tập…

 

 

61. LINH SƠN TẠP ỨNG

Nguyên tác:            

Phiên âm :                 Linh Sơn tạp ứng

Vạn điệp thanh sơn thốc hoạ bình,

Tà dương đạm mạt bán khê minh.

Thuý la kính lý vô nhân đáo,

Sơn thuộc đề yên thời nhất thanh.

Dịch thơ :                  

                    Cảm ứng ở Linh Sơn

 

                                        Phạm Đình Nhân

                                                  Dịch 2007

                        Trùng điệp non xanh tựa bức tranh,

                        Bóng chiều nhạt chiếu nửa khe xanh,

                        Lối đi cỏ biếc không người đến,

                        Trong khói chim rừng kêu thất thanh.

 

 

         Cảm tác ở núi Linh

 

                                         Ngọc Châu

                                                   Dịch 2013

        

            Núi xanh trùng điệp như tranh

                        Nắng chiều chiếu nửa khe xanh nhạt mờ

Cỏ biếc lối không người qua

Chim rừng nháo nhác la đà khói bay.

                       

                       

                   

62. THÔN NAM SƠN TIỂU KHÊ

Nguyên tác :              

           

           

           

           

Phiên âm :     Thôn Nam sơn tiểu khê

Nhàn thân nam bắc phiến vân khinh

Bán chẩm thanh phong thế ngoại tinh.

Phật giới thanh u trần giới viễn,

Đình tiền phún huyết nhất oanh minh.

Dịch thơ :      

               Tạm nghỉ ở núi Thôn Nam

                       

                         Phạm Đình Nhân

                                   Dịch 2007

                     Thân nhàn nam bắc áng mây bay,

                        Gió mát, việc đời thấy nhẹ thay,

Cõi Phật tịnh thanh, xa cõi tục

Trước sân hoa đỏ, tiếng oanh say.

                               

                     Nghỉ ở thôn Nam Sơn

                                

                                   Ngọc Châu

                                             Dịch 2013

 

                        Nhàn thân nam bắc mây bay

Gió mát thổi, thấy nhẹ thay việc đời

Tịnh cõi Phật, tục xa rời

Ngoài sân hoa đỏ, hót cười chim oanh

 

10. PHẠM SƯ MẠNH

 

            Phạm Sư Mạnh tự là Nghĩa Phu, hiệu là Uý Trai, người Hiệp Thạch, Hiệp Sơn, Kinh Môn, Hải Dương. Ông là học trò Chu Văn An. Đỗ Thái học sinh đời Trần Minh Tông (1314-1329). Năm 1346 giữ chức Trưởng bạ thư kiêm Khu mật tham chính. Năm 1358 làm Nhập nội hành khiển Tri khu mật viện sự. Năm 1539 làm Hành khiển tả tư lang trung. Năm 1362 giữ chức Tri khu mật viện sự rồi thăng chức Nhập nội nạp ngôn. Ông để lại Hiệp thạch tập  có khoảng 30 bài thơ trong Toàn Việt thi lục

 

 

63. CHU TRUNG TỨC SỰ

 

Nguyên tác :               

           

           

           

           

 

Phiên âm :                 Chu trung tức sự

Sĩ hoạn tam triều bị sảnh quan,

Thương đầu bạch phát vị hoàn san,

Phần hương toạ đối Nhị hà nguyệt,

Trù trưng yên khê Hiệp Thạch[2] gian

Dịch thơ :                  

Thơ tức sự trên thuyền

 

                                  Phạm Đình Nhân

                        Dịch 2007

Thay đổi ba vua vẫn chức quan

Muốn lên sườn núi sống an nhàn

Đốt hương ngồi ngắm trăng sông Nhị

Hiệp Thạch quê mình nhớ khói lam

 

Tức sự trên thuyền

 

                                   Ngọc Châu

                                   Dịch 2013

 

Ba triều vua vẫn làm quan

Chỉ mong lên núi an nhàn tấm thân

Ngắm trăng sông Nhị hương trầm

Nhớ về Hiệp Thạch khói lam quê nhà

 

 

64. ĐĂNG THIÊN KỲ SƠN LƯU ĐỀ

 

Nguyên tác :    

           

           

绿           

           

           

           

           

           

 

Phiên âm :     Đăng Thiên Kỳ sơn lưu đề

Đông Triều đa hữu hảo giang san,

Khổ luyến minh thời cảm khất nhàn.

Lục ám hạc điền kim tái đáo,

Vân thâm long ngự liểu nan phan.

Phong hiên thuỷ hạm thương đài cổ,

Trúc kính hoa đê cẩm thạch ban.

Tằng thị Tiên hoàng du thưởng địa,

Xuân lai sầu tứ tối tương quan.

Dịch thơ :     

               Lên núi Thiên Kỳ đề thơ lưu niệm

                                 

                                    Phạm Đình Nhân

                                    Dịch 2007

 

Sông núi Đông Triều đẹp xiết bao,

Nhớ triều sáng suốt, chẳng tơ hào.

            Màu xanh ruộng hạc nay năng đến,

            Mây kín xe long khó lối vào.

            Hiên gió rêu xanh bên  nước biếc

            Đường hoa lối trúc đá xanh cao

            Đây chốn Tiên hoàng thường thưởng ngoạn,

            Xuân về, buồn nhớ lại tuôn trào.

                                  

                                   Ngọc Châu

                                   Dịch 2013

 

Đông Triều sông núi đẹp sao

Vua nghiêm quan chẳng tơ hào của dân

Ruộng xanh kéo hạc lại gần

Mây dầy  xe ngự khó phần lại qua

Rêu xanh nước biếc hiên nhà

Đường ven lối trúc đá hoa xanh màu

Tiên Hoàng thường ngoạn du lâu

Xuân về lại nhớ ràu ràu trong tâm.

 

11. HỒ TÔNG THỐC

 

 

Hồ Tông Thốc người làng Thổ thành, phủ Diễn Châu, nay là xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ông  sống cư ngụ tại xã Vô Ngại,  huyện Đường Hào, sau đổi là Mỹ Hào, nay là thôn Vô Ngại, xã Bạch Sam, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Năm Thiệu Khánh đời Trần  Nghệ Tông (1370-1372), ông đỗ Trạng nguyên, làm quan đến Hàm lâm học sĩ. Ông từng làm An Phủ sứ và có lần đi sứ Trung Quốc. Vào cuối niên hiệu Xương Phù đời Trần Phế Đế (1377-1388), ông được thăng lên Hàm lâm học sĩ phụng chỉ kiêm Thẩm hình viện sứ rồi Trung thư lệnh. Khi nhà Hồ lên ngôi, ông về ở ẩn và mất, thọ 80 tuổi. Tác phẩm để lại gồm có Việt sử cương mục, Thảo Nhàn hiệu tần tập, Việt Nam thế chí, Phú học chỉ nam…

 

65. ĐỀ  HẠNG VƯƠNG TỪ

Nguyên tác  :                  

                                 

           

           

           

          

           

           

           

 

Phiên âm :                 Đề Hạng Vương từ

Bách Việt sơn hà khởi chiến phong,

Hề tương tử đệ nhập Quan Trung.

Yên tiêu Hàm Cốc châu cung lãnh,

Tuyết tán Hồng Môn ngọc đẩu không.

Nhất bại hữu thiên vong Trạch Tả,

Trùng lai vô địa đáo Giang đông.

Kinh doanh ngũ tải  thành hà sự?

Tiêu đắc khu khu táng Lỗ Công.

 

 

Dịch thơ :                  

                     Đề ở đền Hạng Vương[3]

                                  

                                  Phạm Đình Nhân

                                            Dịch 2007

 

                     Bách Việt[4] non sông rực chiến công

Đem đoàn đệ tử chiếm Quan Trung.

Khói tan Hàm Cốc cung A  lạnh[5],

Đẩu vỡ Hồng Môn như tuyết tung[6].

Số đã định, theo đường Trạch Tả[7],

Nẻo đi về, chẳng đến Giang Đông[8].

Năm năm lăn lộn hoài công sức ?

Chỉ  được làm  tang theo Lỗ Công

 

 

Viết ở đền Hạng Vương[9]

          

                                  Ngọc Châu

                                  Dịch 2013

 

Bách Việt rực rỡ chiến công

Anh em tử đệ  Quan Trung chiếm thành

Hàm Cốc khói tan lạnh tanh

Hồng Môn đẩu vỡ tan tành tuyết bay

Định số, Trạch Tả đường này

Đến Giang Đông, chẳng có ngày mai sau

Năm năm lăn lộn dãi dàu

Lễ tang chỉ bậc khanh hầu Lỗ Công

 

 

 

12. ĐẶNG DUNG

( ? – 1414)

 

Đặng Dung, danh tướng đời Hậu Trần, quê Thiên Lộc, nay là Can Lộc, Hà Tĩnh, con trai Đặng Tất. Ông là viên tướng giỏi thời Hậu Trần, người đã cùng Nguyễn Cảnh Dị đưa Trần Quý Khoáng lên ngôi. Quân Minh đem quân xâm lược, bắt được Trùng Quang Đế tức Trần Quý Khoàng cùng với Đặng Dung và Nguyễn Súy giải về Tàu. Trên đường đi, vua tôi nhà Trần đã nhảy xuống biển tự vãn để tỏ rõ khí phách (1414). Đặng Dung để lại bài thơ Cảm hoài nổi tiếng để tỏ rõ tâm trạng của mình. Qua 5 thế kỷ, bài thơ đã được nhiều thi nhân xưa và nay dịch.

 

66. CẢM HOÀI

Nguyên tác :                 怀 

                                   

           

           

           

      怀     

           

           

                   

 

Phiên âm:                  Cảm hoài

Thế sự du du nại lão hà,

Vô cùng thiên đia nhập hàm ca.

Thời lai đồ điếu thành công dị,

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.

Trí chủ hữu hoài phù địa trục,

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,

Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma.

Dịch thơ :                  

                Nỗi lòng

                                  Phạm Đình Nhân

                        Dịch 1999

Thế cuộc nao nao hận tuổi già,

Đất trời muôn nẻo ngậm ngùi ca.

Gặp thời, kẻ mọn thành công dễ,

Lỡ vận, anh hùng nuốt hận la.

Phò chúa, những mong vần trái đất,

Dậy binh, không giữ nổi thiên hà.

Nước non chưa đáp, nay đầu bạc,

Mấy độ mài gươm dưới ánh tà?

                                                 

 

Cảm tác

 

                                  Ngọc Châu

                                            Dịch 2013

                       

                        Thế cuộc buồn, hận tuổi già

Bao la trời đất khúc ca ngậm ngùi

Thành công - kẻ mọn gặp thời

Anh hùng nuốt hận giữa đời -  vận qua

Phò chúa mong vực sơn hà

Dậy binh vẫn để nước nhà bại vong

Bạc đầu nợ nước chưa xong

Mài gươm mấy độ náo trông trăng tà?

 

                       

             (còn tiếp lần 9)            Ngọc Châu ,Biên tập


 
Tác giả BBT