THÔNG BÁO

Chuc nam moi.jpgChào năm mới ! 2017
      Năm 2016 đã qua đi theo thời gian và những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ XII  đã thành công rất, rất tốt đẹp, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước. Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất nổi trội....
THƠ ĐƯỜNG LUẬT DI SẢN VĂN HÓA QUÝ BÁU ...
14-06-2014
Bông hòng.jpg Xin trân trọng giới thiệu bài viết của Nhà giáo - Cử nhân Duy Trọng

 THƠ ĐƯỜNG LUẬT DI SẢN VĂN HÓA QUÝ BÁU

                                    CÙNG SỐNG MÃI VỚI THƠ CA CAO BẰNG

                                                         Nhà giáo - Cử nhân Nguyễn Duy Trọng

                                                     Phó Chủ tịch Thường trực BCH Hội TĐL tỉnh Cao Bằng

     Thơ Đường luật (TĐL) là thể thơ truyền thống của Việt Nam, một di sản văn hóa quý báu trong nền văn học nghệ thuật nước nhà. Nó có một sức sống trường tồn  trên cả nước cũng như tại Cao Bằng.

          I.  TĐL    THỂ  THƠ  TRUYỀN  THỐNG,  LÀ TINH HOA VĂN HÓA ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC VIỆT NAM

 

Thơ đường luật Việt Nam có nguồn gốc từ thơ Đường Trung Quốc du nhập vào nước ta cách đây hơn 1.000 năm. Lúc đầu ta làm bằng chữ Hán sau đó là chữ Nôm từ thế kỷ 13, rồi đến TĐL bằng chữ Quốc ngữ, phổ biến rộng rãi, được các thi sỹ nước ta Việt hóa thành một thể thơ có đủ nội lực mang hồn cốt dân tộc Việt Nam. Không thể ngộ nhận TĐL Việt Nam là thơ Trung Quốc. Khẳng định TĐL Việt Nam là thể thơ truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc với những thực tế sau đây:

 

    TĐL XUẤT HIỆN CÙNG THỜI SƠ KHAI CÁC THỂ THƠ CA TRUYỀN THỐNG  THUẦN VIỆT VÀ CÓ MỐI QUAN HỆ RÀNG BUỘC VỀ CẤU TRÚC MÔ HÌNH THỂ

LOẠI:

           Lúc đó dân ca và thơ lục bát còn gọi chung là CA, song thất lục bát bắt nguồn từ những câu lục bát biến thể gọi là NGÂM, TĐL gọi là THI (Luật thi). Mỗi thể loại có sắc thái riêng nhưng chúng cùng đồng hành bên nhau bởi có quan hệ về 3 thành tố cơ bản của thể thơ truyền thống đó là vần - Luật (Thanh điệu bằng trắc) - Đối (tùy theo thể loại), cùng hướng tới một yêu cầu là dễ đọc, dễ nghe và dễ nhớ. Một số ví dụ:

        Ví dụ a: Về thơ ca thuần Việt: - Tục ngữ:  “Tay làm/Hàm nhai” (Cả vần và đối).

              - Ca dao: “Bao giờ cho đến tháng hai/ con gái làm cỏ, con trai bê bờ.

              - Hò vè: “Nú na nú nống/ cái bống nằm trong/ Cái ong nằm ngoài/ củ khoai kiện bụt";   “Cái thân em ở đời/ Hỏi làm sao chịu được/ Chồng sai đi múc nước/ Chị bảo lấy que tăm... - Thơ lục bát:“Một mình nàng ngọn đèn khuya/Áo đầm giọt lệ tóc se mái sầu”,  Song thất lục bát: “Chàng thì đi cõi xa mưa gió/ Thiếp trở về buồng cũ chiếu chăn” vv... Kể cả dân ca các vùng miền như: Quan họ, Hát xoan, Bài chòi, Hát dặm, lượn, sli Tày Nùng...

đều thể hiện 3 yếu tố VẦN - LUẬT - ĐỐI.

          Ví dụ b về TĐL: “Lác đác ngàn xanh điểm lá vàng/ Thu buồn hiu hắt khắp không gian/Vài tia nắng hạ còn lưu luyến/ Mấy đóa sen tàn vẫn vấn vương/ Giỏ cúc đầu thềm khêu nỗi nhớ/Nhành ngâu trước ngõ gợi niềm thương Vườn bên chiếc lá Ngô đồng rụng/ Như mảnh tình ai lạc gió sang”

          Thu sang - Hoài Yên

            Đây là bài T.Đ.L thất ngôn bát cú hoàn chỉnh đủ 5 yếu tố: LUẬT - NIÊM - VẦN - ĐỐI - BỐ CỤC. Ngoài ra thể T.Đ.L còn có các dạng ngũ ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt, tất cả đều thể hiện đúng thi pháp của T.Đ.L trong đó nổi bật các yếu tố cơ bản LUẬT, NIÊM, VẦN, ĐỐI phù hợp với các thể thơ ca truyền thống Việt Nam.

QUÁ TRÌNH VIỆT HÓA. TĐL ĐÃ ĐƯỢC CẢI TIẾN VỀ THI PHÁP VÀ NÂNG CAO. PHÁT TRIỂN VỀ BÚT PHÁP  ĐỂ  TRỞ  THÀNH  THỂ  THƠ  TRUYỀN  THỐNG

VIỆT NAM CẢ VỀ HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG: Khi  TĐL hoàn toàn bằng chữ Nôm coi như đã được Việt hóa triệt để, sáng tạo về thi pháp, nới lỏng rào chắn về mô hình cấu trúc từ Hàn Thuyên, Điểm Bích (Thời Trần), Nguyễn Trãi, Hồng Đức (Thời Lê), Nguyễn Bỉnh Khêm (Thời Mạc)... đã bổ xung hàng trăm ngón chơi cho TĐL Việt Nam. Về bút   pháp, tài hoa riêng của các thi sỹ được nẩy nở phong phú như Tản Đà tiên sinh đã đánh giá: Thơ Nguyễn Khuyến phóng túng, thơ Tú Xương sâu sắc, thơ Bà Huyện Thanh Quan nền nếp, thơ Nguyễn Trãi trang trọng tao nhã, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Công Trứ trăn trở trước nhân tình thế thái, thơ Tôn Thọ Tường vịnh sử hay, thơ Quách Tấn tả cảnh hay, thơ Hồ Xuân Hương trào lộng châm biếm, tả tình hay vv... nhất là từ khi TĐL bằng chữ Quốc ngữ đã tự giải phóng ra khỏi thể thơ “Bác học” dù có tinh tế, cao sang nhưng dầy đặc các điển tích khó hiểu, không đại chúng. Vì vậy TĐL Việt Nam ngày càng gắn bó với hiện thực cuộc sống người Việt Nam thông qua các yếu tố tình cảm, tâm lý, lối sống, ngôn ngữ trở thành thể thơ truyền thống Việt Nam, phổ cập rộng rãi, trước đây không có khóa sinh nào là không thi TĐL, các học vị từ tú tài, cử nhân đến tiến sỹ, trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa đều rất giỏi TĐL.     Bài “Thu sang” làm ví dụ trên đây hoàn toàn bằng tiếng Việt không có âm từ Hán - Nôm nào mà vẫn rất hay, rất thơ. Có những bài thơ tiếng Việt viết cách đây vài thế kỷ, khi đọc lại tưởng rằng vừa viết hôm nay. Ví dụ:

            “Đời này nhân nghĩa tựa vàng mười/ Có của thì hơn hết mọi lời? Trước đến tay không nào thiết hỏi/ Sau vào gánh nặng lại vui cười! Anh anh, chú chú mừng hơ hải/ Rượu rượu chè chè thết tả tơi! Người, của... lấy cân ta nhấc thử/Mới hay rằng của nặng hơn người!”  (Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm)

      Các thi sỹ nước ta vừa sáng tác vừa truyền dạy. Cụ Quách Tấn viết ngót 400 trang thi pháp TĐL, cụ Lạc Nam biên soạn hàng 100 trang giáo trình giới thiệu TĐL, thể thơ này đã có thời gian dài giữ vị trí độc tôn trên thi đàn cả nước. Ý kiến các nhà khoa học khẳng định thơ Đường luật là thể thơ truyền thống Việt Nam, qua các bài tham luận hội thảo TĐL toàn quốc tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội ngày 26/4/2012: - Giáo sư AHLĐ cụ Vũ Khiêu

chỉ rõ:  “Chúng ta gọi thơ Đường Việt Nam thực ra không phải là thơ Đường mà chính là thơ Việt Nam sử dụng thể loại thất ngôn bát cú của đời Đường... đây chính là thơ Việt Nam, tâm hồn Việt Nam, cảm xúc Việt Nam, phản ánh hiện thực Việt Nam... dù viết bằng chữ Nôm hay chữ Hán thì thơ ấy vẫn là thơ Việt Nam” . - Nhà thơ Bằng Việt (Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam) kết luận: “Đọc TĐL hôm nay của các tác giả Việt Nam, tôi không hề có chút cảm giác nào rằng đó là thơ vay mượn hay diễn dịch từ một ngôn ngữ khác hoặc từ một cách nói xa lạ ở đâu đó được nhập tịch về. Trái lại nó đã mang đủ mọi tố chất là một thể thơ thuần Việt, hòa quyện vào cách nói, tâm lý, hơi thở, cách thể hiện mình của người Việt Nam...”. THƠ ĐƯỜNG LUẬT MỘT DI SẢN VĂN HÓA QUÝ

BÁU đã được văn học sử Việt Nam công nhận từ lâu đời, được đưa vào chương trình giáo khoa chính thức, không ai còn nghi ngờ giá trị văn chương to lớn của nó. Nay chỉ có thể nhấn mạnh lại một số tinh hoa, vốn quý nổi bật sau đây: Trước hết tôn vinh TĐL là trân trọng một tài sản trí tuệ vô giá về văn học nghệ thuật do tiền nhân là những danh sỹ, danh nhân văn hóa, danh tướng, những anh hùng dân tộc, những thi ca bất hủ đã lưu truyền qua hơn 10 thế kỷ để lại trong TĐL nhất là về bản sắc văn hóa chống ngoại xâm, tinh thần yêu nước, lòng nhân ái của người Việt Nam, như thơ của Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt,

Trần Quang Khải, Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu v.v. Đặc biệt là nghệ thuật đặc sắc cao đẹp của TĐL: cấu trúc bài TĐL với 5 yếu tố như nêu trên, đáp ứng được yêu cầu về tính chặt chẽ, tính cân đối, tính tương phản của thể loại, trong đó khó nhất là đối ngẫu, thoát hiểm được bài thơ sẽ rất hay. TĐL rất giàu nhạc tính, âm nhạc có trong các loại thơ nhưng trong TĐL giữ vị trí cực kỳ quan trọng. Nếu tứ thơ là linh hồn, ngôn ngữ là cốt cách thì âm nhạc là  hơi thở của TĐL với nhịp điệu bổng lên trầm xuống thông qua luật, niêm, vần, đối do thể loại quy định. Đặc biệt TĐL còn có tính tổng hợp hàm xúc rất cao. Tuy nhiên sự xúc tích cô đọng là yêu cầu chung của thơ ca, nhưng đối với TĐL là vô cùng quan trọng, bởi gói gọn dài nhất chỉ 56 từ (56 viên ngọc) mà đáp ứng mọi yêu cầu cả về hình thức và nội

dung của bài TĐL. Do đó “Đa nghĩa kiệm lời” là nguyên tắc tối thượng của TĐL... Ví dụ bài “Nam quốc sơn hà” của danh tướng Lý Thường Kiệt như một bản Tuyên ngôn

độc lập cũng chỉ bằng 4 câu TĐL đã đầy đủ ý nghĩa. Đó là những nét đẹp tạo nên giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc đã được ông cha ta dày công tạo dựng trong suốt chiều dài phát triển của nền văn học Việt Nam.

 

II. TĐL SỐNG MÃI CÙNG THƠ CA VIỆT NAM NÓI CHUNG VÀ CAO BẰNG NÓI RIÊNG THƠ MỚI (THƠ TỰ DO) RA ĐỜI, TĐL MẤT VỊ TRÍ ĐỘC TÔN NHƯNG VẪN TỒN TẠI LÀ MỘT THỂ LOẠI, MỘT  BÔNG  HOA  HƯƠNG  SẮC  LÀM  PHONG  PHÚ THÊM VƯỜN HOA RỰC RỠ CỦA DÂN TỘC.

         TĐL có sức sống mãnh liệt, bền bỉ, trường tồn ở Việt Nam bởi 2 yếu tố cơ bản. Một là, ngôn ngữ Việt Nam đáp ứng được điều kiện cần thiết của mô hình cấu trúc TĐL là phải có sự đối lập về thanh điệu bằng, trắc và đơn âm tiết. Chữ quốc ngữ Việt Nam có các dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và không dấu, cách phát âm có thanh điệu bằng - trắc, hiện nay và mãi sau này không có gì thay đổi, với 6 thanh điệu rõ ràng, giàu sức diễn tả bằng nhạc tính, đó là môi sinh lý tưởng  của  TĐL  Việt  Nam.  Trước  đây  Nhật  Bản,  Hàn Quốc cũng sáng tác TĐL bằng chữ Hán, không làm được bằng chữ nước họ vì ngôn ngữ nước họ không có thanh điệu tạo sự đối lập bằng trắc. Còn Việt Nam và Trung Quốc trước đây có sự tương đồng về ngôn ngữ (Đơn âm tiết và có thanh điệu bằng - trắc) phù hợp thể TĐL. Do đó TĐL cận thể đã tồn tại ở Trung Quốc gần 1.500 năm. Đến nay do ngữ âm tiếng Hán có nhiều thay đổi bất lợi cho sáng tác TĐL nên cũng không thịnh hành nữa. Ngược lại ngôn ngữ nước ta luôn thích hợp, thuận lợi cho sự duy trì, phát huy TĐL, kể cả lúc khó khăn nhất TĐL cũng không tàn phai. Những năm 1932 - 1936 phong trào thơ mới thắng thế, TĐL mất vị trí độc tôn trên bình diện báo chí nhưng lại tỏa về các thi xã với những chiếu thơ không

chuyên và ẩn mình trong các thi tập của các danh sỹ yêu “thơ cũ” như Quách Tấn, Ngân Giang, Tú Mỡ, Đồ Phồn, Hăng Phương... và những thi phẩm bằng TĐL của các chiến sỹ cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Văn Thụ... Đồng thời những thi sỹ đã quen làm TĐL khi chuyển sang thơ mới: Thơ 7 chữ, 5 chữ mỗi khổ 4 câu thì họ chỉ bỏ cấu trúc thất ngôn bát cú, ngũ ngôn bát cũ, bỏ đối ngẫu. Họ vẫn giữ nguyên Niêm - Luật - Vần như một bài tứ tuyệt đường thi. Ví dụ: Bài “Nắng mới” của Lưu Trọng Lư (Người đả phá thơ cũ mạnh nhất):

                   “Tôi nhớ mẹ tôi thuở thiếu thời/Lúc người còn sống tôi lên mười / Mỗi lần nắng mới gieo ngoài nội/Áo đỏ người đưa trước giậu phơi”

                      Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX TĐL được phục hồi. Hội TĐL Việt Nam có 76 chi hội với trên 3.000 hội viên, đã xuất bản 7 tập  “thắp sáng Đường thi” mỗi tập thu hút hàng ngàn tác giả là hội viên cả nước, đã 3 lần hội thảo TĐL toàn quốc. Tại hội thảo “Bút xưa...” năm 2002 nhà thơ Vũ Quần Phương (Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam) nhận định: “Sức sống của thơ Đường luật thật là kỳ vĩ, nó đủ sức đồng hành với các nhà thơ thế kỷ XXI”. Những vấn đề nêu trên chứng tỏ TĐL một giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam không thể bị tan biến mà sống mãi với thời gian.

 

ĐỐI  VỚI  CAO  BẰNG  MỘT  MIỀN  QUÊ  GIÀU TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA ĐÃ SỚM HÒA VÀO DÒNG CHẢY CHUNG CỦA TĐL CẢ NƯỚC.Từ lâu người Cao Bằng sáng tác TĐL bằng chữ Hán - chữ Nôm rồi bằng chữ  quốc  ngữ  như  Bế Văn  Phụng,  Nông  Quỳnh Văn, Lương Tuấn Tú, Lê Thế Hồ. Đặc biệt là làm TĐL bằng tiếng Tày - Nùng như các tác giả: Hoàng Đức Hậu, các tác giả là lão thành cách mạng: An Định, Hoàng Đức Thạc,  Việt  Hưng,  Thân  Văn  Lư,  Dương  Công  Hoạt, Hoàng Tuấn Sơn, Nguyễn Ngọc Phẩm, Hoàng Triều Ân... tiếp đó đã có nhiều tác giả xuất bản được Thi tập riêng T.Đ.L bằng tiếng Tày, Nùng hoặc song ngữ (Tày, Nùng - Việt ngữ) như Tạ Tân Tiến, Ngô Lương Ngôn, Hoàng An,... Hội T.Đ.L tỉnh đã xuất bản 6 thi tập “Lửa rừng” của Hội là T.Đ.L bằng tiếng Việt và tiếng Tày, Nùng vv... Với thuận lợi là ngôn ngữ Tày Nùng có đặc điểm đơn âm tiết, có thanh điệu bằng, trắc bởi các dấu sắc, huyền, hỏi, nặng và không dấu giống như chữ quốc ngữ, giàu thanh điệu, nhạc điệu, hình ảnh, cảm xúc... phù hợp thể TĐL. Do vậy người Cao Bằng sáng tác được T.Đ.L bằng tiếng Việt và tiếng Tày Nùng, dịch được các bài T.Đ.L tiếng Việt sang tiếng Tày Nùng và ngược lại. Ví dụ: bài “Vọng nguyệt”

Thơ “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh:

 

        - Âm Hán - Việt (VỌNG NGUYỆT)  “Ngục trung vô tửu diệc vô hoa/ Đối thử lương tiêu nại nhược hà?/Nhân hướng  song  tiền  khán  minh  nguyệt/  Nguyệt  tòng  song khích khán thi gia” 

        - Âm thuần việt (NGẮM TRĂNG):  “Trong tù không rượu cũng không hoa/ cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ/ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ/Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

    N.G.Ư.T - Nhà thơ Hoàng An đã dịch ra tiếng Tày Nùng (DỒM HAI):  “ Chang tù lẩu bióc au tâừ mì/ Gẳm nẩy dưởng đây chắc hất rừ/Gần piếm noỏc tu hai chỏi rủng/Hai rèo rẹp táng Poóm gần sli”

      Cũng tác giả Hoàng An viết bài song ngữ “Bioóc ngậu”:  “Bioóc  ngậu  heng  tồn  thuổn  slí  phương/  Nhị lương nậu đáo bậc quân vương/ loỏc lòi dên toót lai phân đét/ Ngậu vận cẳm nâư ngửt ngảo hương” .

           Dịch ra tiếng Việt  (HOA  SEN):  “Danh  tiếng  hoa  sen  vọng  bốn phương/Nhị   vàng bông trắng đấng quân vương/ Dãi dầu sương  giá  bao  mưa  nắng/  Sen  vẫn  âm  thầm  tỏa  ngát hương”.

        Có thể nói T.Đ.L ở Cao Bằng rất phong phú có điều kiện cần và đủ để tồn tại và phát triển cùng các loại thơ ca khác ở địa phương và trong cả nước. Giữ gìn, cách tân, phát huy T.Đ.L góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản

sắc dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tôi hy vọng sau cuộc hội thảo này phong trào T.Đ.L Cao Bằng sẽ có bước phát triển mới mạnh mẽ hơn nâng cao hơn cả về số lượng và chất lượng./.

 

Tác giả BBT