THÔNG BÁO

Choa nam moi.jpg    Năm cũ đã qua, năm mới - 2018 lại tới, những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. theo thời gian lùi dần về quá khứ

Đảng ta , nhân dân ta đang tập trung quyết liệt chống tham nhũng, và cải cách hành chính nhằm làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn    

     Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất tích cực ....

 

THƠ ĐƯỜNG LUẬT QUÁ KHỨ -HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI
19-05-2014
Cao Bang.jpg Xin giới thiệu bài viết của :

Hoàng Trung Phong

Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Cao Bằng

Chủ tịch danh dự Hội thơ Đường luật tỉnh Cao Bằng
   : THƠ ĐƯỜNG LUẬT QUÁ KHỨ - HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

Cuộc hội thảo Thơ Đường luật Cao Bằng hôm nay với chủ đề - Thơ Đường luật “Quá khứ - Hiện tại - Tương lai” có một ý nghĩa vô cùng sâu sắc; nhằm khẳng định lại vị trí và tầm quan trọng của thơ Đường luật trong đời sống xã hội của dân tộc Việt Nam nói chung và của các dân tộc tỉnh Cao Bằng nói riêng trong suốt quá trình lịch sử giữ nước và dựng nước.

Thơ Đường luật đã xuất hiện ở Việt Nam hàng ngàn năm qua, đến nay, nó đã trở thành di sản văn hóa của dân tộc. Thơ Đường luật là một thể thơ hay, có cấu trúc riêng biệt, có niêm luật chặt chẽ, lối thơ tao nhã, thi vị, cao quý, âm điệu uyển chuyển; từ ngữ trau chuốt. Khác với những thể thơ tự do, thơ Đường luật là một thể thơ khó làm hơn cả. Tuy nhiên, khi đã nắm chắc cơ bản về thể thức, cách làm thì việc làm được một bài thơ Đường luật lại không

phải là khó. Đối với thơ Đường luật thường có hai dạng, dạng thứ nhất ta hay gọi thể thất ngôn bát cú, dạng thứ hai là ngũ ngôn bát cú; người ta còn chia cắt bài thất ngôn bát

cú thành các bài thất ngôn tứ tuyệt; và chia cắt bài ngũ ngôn bát cú thành các bài ngũ ngôn tứ tuyệt. Thơ Đường luật trước đây phù hợp với chữ Hán (có nguồn gốc từ Trung Quốc) nhưng sau này càng phù hợp với chữ Nôm, quốc ngữ, Tày, Nùng. Thông qua ngôn ngữ, câu cú thơ Đường luật đã miêu tả sâu sắc về suy nghĩ và hành động của con người trong quá trình đấu tranh chế ngự thiên nhiên, đấu tranh giai cấp, đấu tranh chống cái ác, chống

cái tiêu cực, lạc hậu nhằm bảo vệ chân lý, bảo vệ cái đúng, cái hay, cái đẹp... đấu tranh để góp phần phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua hàng ngàn năm phát triển, qua biết bao triều đại phong kiến, chế độ thực dân đến khi cách mạng Tháng 8 thành công cho đến nay, thơ Đường luật luôn luôn songhành cùng lịch sử. Đã có nhiều nhà hiền triết, nhiều vị vua, nhiều nhân vật lịch sử, nhiều gia thi đã có những bài thơ hay theo thể Đường luật như bài  “Nam quốc sơn hà”, do Thái úy Lý Thường Kiệt đọc trên trận đánh ở

sông Như Nguyệt:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư

Nhữ hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Bài thơ “thần” trên như một bản tuyên ngôn độc lập hùng hồn trong lịch sử nước ta. Cũng từ những lời thơ đanh thép này như một hồi kèn xung trận đã thôi thúc binh sỹ dốc sức đánh địch tạo nên sức mạnh vô biên làm nên chiến thắng lịch sử trên sông Như Nguyệt năm 1070, Lý Thường Kiệt đã chỉ huy các binh sỹ đánh tan hàng chục vạn quân Tống.

Đại thi nhân Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ đã sử dụng thơ Đường luật để đối đáp nhau. Giai thoại kể rằng, một buổi chiều Nguyễn Trãi từ quán Trấn Vũ đi lên phía Hồ Tây đón Trần Nguyên Hán từ Ba Vì về để cùng nhau đi tìm “chân chúa” khởi nghĩa cứu nước khỏi ách giặc Minh, Nguyễn Trãi gặp một cô gái bán chiếu xinh đẹpnhanh  nhảu  mời  mua. Thấy    gái  dáng  quen  quen, Nguyễn Trãi chợt nhận ra đã từng gặp nàng vào quán chép

kinh thuê cho pháp sư trụ trì ở Trấn Vũ, Nguyễn Trãi ứng khẩu bốn câu thơ vừa thay lời hỏi, vừa bỡn cợt chọc ghẹo:

Ả ở đâu ta bán chiếu gon?

Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn?

Xuân xanh chừng độ bao nhiêu nhỉ?

Đã có chồng chưa được mấy con?

Cô hàng chiếu cũng chằng vừa, nàng hạ gánh chiếu, mở nón quạt phe phẩy rồi đáp:

Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon

Can chi chàng hỏi hết hay còn?

Xuân xanh nay mới trăng tròn lẻ

Chồng còn chưa có, có chi con

 

Cô hàng chiếu đó chính là Nguyễn Thị Lộ quê Đông Triều gần Côn Sơn. Sau cuộc kỳ ngộ này Thị Lộ trở thành vợ thứ của Nguyễn Trãi. Sau thảm án Lệ Chi Viên ngày16/8/1442 do Nguyễn Thị Anh vợ Lê Thái Tông vu oan cho Nguyễn Thị Lộ giết vua Lê Thái Tông, cả ba họ đời Nguyễn Trãi phải chịu cảnh chu di, mãi đến năm 1464 (sau 22 năm), đời vua Lê Thánh Tông xuống chiếu tẩy oan Nguyễn Trãi mới được minh oan và truy phong chức

Đặc tiến Kim tử Vinh Lộc đại phu, tước Tán Trù bá và cho người con duy nhất còn sót lại là Nguyễn Anh Vũ làm tước tri huyện (thực ra tước Lê Thánh Tông phục phong cho Nguyễn Trãi vẫn còn kém một bậc so với Lê Lợi phong cho ông - chức quan Nhập nội Hành khiển kiêm Lại bộ Thượng thư).

    Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, bố của Bà giữ một chức quan nhỏ của triều đình (gọi là ông Đốc) thời Gia Long, quê ở làng Nghi Tàm giáp với Hồ Tây Hà Nội ngày nay. Ngay từ thời còn trẻ Bà đã giỏi thơ văn, đặc biệt bà rất thích thơ Đường luật, lúc đó thơ Đường luật chủ yếu được làm bằng chữ Hán, Bà tự nhủ chẳng lẽ thơ Đường luật không làm bằng chữ Nôm, mình là người Việt lại cứ làm thơ bằng chữ Hán, còn chữ Nôm lại không thể làm nổi một bài thơ Đường luật hay sao? Ta chẳng nên bắt trước người đi mượn chữ nước ngoài và cũng chẳng phải làm thơ Hán mới là sang? Bà cũng thấy rằng làm thơ bằng chữ Nôm thật là khó, việc chọn chữ, chọn từ vì thế rât công phu, tuy vậy Bà đã lao tâm khổ tứ trong việc đèn sách và trong một lần đi xa cùng cha trở về Thăng Long khi cha được về Thăng Long để làm giám khảo kỳ thi Hương, trên đường đi qua biết bao cảnh đẹp của quê hương đất nước đã thôi thúc Bà và Bà đã có bài thơ đầu tay  “Tức cảnh mùa thu” bằng chữ nước mình đó là:

Thấp thoáng non tiên lác đác mưa

Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ

Xanh um cổ thụ tròn xoe tán

Trắng xóa Trường giang phẳng lặng tờ

Bầu giốc giang sơn say chấp rượu

Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ

Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ

                     Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ

Bài thơ quả là tuyệt tác về văn vần, vế đối, niêm luật, bố cục không thể nào chê vào đâu được. Với bài thơ này, Bà Huyện Thanh Quan đã làm cho giới thi nhân ở Thăng Long thời bấy giờ sửng sốt, hâm mộ. Tiếp sau đó Bà Huyện Thanh Quan lại có bài  “Chiều hôm nhớ nhà” với những lời thơ chau chuốt tinh tế, quý như những viên ngọc, đẹp như một bức tranh cổ, đã được các quan chức triều đình Huế đọc cả ngày không chán, cho đến nay vẫn đang được mọi người mến mộ lưu truyền.

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn

Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn

Gác mái ngư ông về viễn phố

Gõ sừng mục tử lại cô thôn

                      Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi

                       Kẻ chốn chương đài người lữ thứ

                       Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn.

 

Bà Huyện Thanh Quan cùng gia đình sống ở Huế đến thời Thiệu Trị lên làm vua, sau khi bố, mẹ, chồng mất và bị vua quan ngờ vực cho là Bà làm trái ý triều đình, Bà đã xin từ chức “Cung trung giáo tập” và từ biệt triều đình Thiệu Trị (khoảng năm 1841 - 1847). Lòng Bà dửng dưng như ngày đến với triều đình Minh Mệnh. Bà đã gửi 4 con về Nghi Tàm trước (Bà có 4 con, trai là Tuân và Cung, gái là Chinh và Lương) trên đường về quê nhà bỏ lại bao điều đắng cay từng trải; khi đến đỉnh đèo Ngang vẻ đẹp của thiên nhiên đã làm lòng Bà xao xuyến dừng chân, trời về chiều êm ả phủ lên núi rừng một màu vàng óng ả, cây cỏ mọc chen nhau với đá, theo gió nhẹ hoa lá chen nhau đong đưa, trong bát ngát của núi rừng lòng Bà thấy trống trải, thấy mấy người kiếm củi ở chân núi và cái chợ lèo

tèo mấy nếp nhà không người qua lại, gần đó đâu đây có tiếng kêu của con chim quốc và tiếng con gà gô kêu “gia gia”. Những hình ảnh ấy đã gợi lên trong lòng Bà một nỗi

lòng khắc khoải nỗi nhớ nước nhà, chán ghét bọn vua quan nhà Nguyễn, Bà đã làm bài thơ tại Đèo Ngang một địa danh giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh hiện nay:

Bước tới Đèo ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá lá chen hoa

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Dùng chân đứng lại trời, non, nước

Một mảnh tình riêng ta với ta

Bà đã lưu luyến nhìn cảnh vật để khắc vào tim mình. Bà biết rằng đời mình sẽ không còn dịp quay lại nơi này. Bà  lại  lên  đường  bỏ  lại  ngày  càng  xa  triều  đình  nhà Nguyễn ở phía sau.

        Đó  còn    cụ  “Tam  Nguyên  Yên  Đổ”  -  Nguyễn Khuyến; với tư duy sắc xảo, ngòi bút sắc bén, ông đã dùng thơ Đường luật để miêu tả cảnh mùa thu với bài

“Thu điếu”:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tý

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tựa gối buông cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta, dưới sự bảo hộ của Pháp, chính quyền phong kiến thường tổ chức một số ngày lễ, trong đó có lễ kỷ niệm ngày Cách mạng Tư sản Pháp (phá ngục Bát xi ty) ngày 14/7/1789. Dịp này, họ đã mở hội tổ chức các trò chơi... trong khi đó dân ta còn cơ cực khổ sở, lâm vào cảnh nước mất nhà tan. Nguyễn Khuyến đã dùng thơ Đường để mỉa mai cảnh lễ hội đó. Đó là bài

                                    “Hội Tây”:

Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo

Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo

Bà quan tênh hếch xem bơi trải

Thằng bé lom khom ghé hát chèo

Cậy sức cây đu nhiều chị nhún

Tham tiền cột mỡ lắm anh leo

Khen ai khéo vẽ trò vui thế

Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu.

 

Lại nói đến chuyện ông Tuần phủ Đích là bạn cùng thời với Nguyễn Khuyến, nhưng ông này tính tình ki bo, keo kiệt hay chơi xấu với bạn bè. Nguyễn Khuyến thường hay làm thơ châm chọc, có lần ông tuần phủ Đích bị kẻ cướp cướp của và đánh ông một trận nhừ tử, được dịp Nguyễn Khuyến giả bộ làm thơ hỏi thăm nhưng kỳ thực là chơi xỏ ông tuần phủ với bài                      “Hỏi thăm quan Tuần mất cướp”:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông

Nó lại lôi ông đến giữa đồng

Cướp của đánh người quân tệ nhỉ !

Xương già da cóc có đau không ?

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Danh nhân văn hóa thế giới, lãnh tụ vĩ đại, kiệt xuất của dân tộc Việt Nam - Một nhà thơ lớn của dân tộc, Người đã sử dụng rất thành thạo nhiều loại thơ, trong đó có thơ Đường luật. Người đã sử dụng thơ Đường để ca ngợi tinh thần đấu tranh bất khuất của dân tộc Việt Nam; tố cáo những hành động tàn bạo của chế độ nhà tù đế quốc, phong kiến; Người đã dùng thơ Đường để giáo dục thế hệ trẻ, giáo dục mọi người

trong cuộc sống, để đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất  đất  nước.  Thơ  của  Người    nhiều  thể  loại,  tuy nhiên, có thể điểm ra đây một số bài dạng thơ Đường:

                                               Chia nước

Mỗi ngày nửa chậu nước nhà pha

Rửa mặt pha trà tự ý ta

Muốn để pha trà thôi rửa mặt

Muốn để rửa mặt chớ pha trà.

          Hoặc trong bài:

                                  Bốn tháng rồi

Một ngày tù nghìn thu ở ngoài

Lời nói người xưa đâu có sai

Sống ở trong tù vừa bốn tháng

Tiều tụy còn hơn mười năm trời

            Hoặc  bài:

                             Nghe tiếng giã gạo

Gạo đem vào giã bao đau đớn

Gạo giã xong rồi trắng tựa bông

Sống ở trên đời người cũng vậy

Gian nan rèn luyện mới thành công

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Chủ tịch  Hồ  Chí  Minh  tuy  bận  rất nhiều  công  việc  nhưng Người vẫn thường làm thơ. Trong những bài thơ đó phải kể đến hai bài thơ: Thơ chúc tết cổ truyền dân tộc năm 1967 và năm 1968. Hai bài thơ này cũng theo thể thơ Đường.

Bài thơ chúc tết năm 1967:

Xuân về xin có một bài ca

Gửi chúc đồng bào cả nước ta

Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi

Tin mừng thắng trận nở như hoa

                  Bài thơ chúc tết năm 1968:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

Thắng trận tin vui khắp nước nhà

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên toàn thắng ắt về ta .

 

Qua nêu ở phần trên ta thấy thơ Đường luật quả là phong phú, nó luôn cùng các thi gia song hành cùng thời đại viết lên những trang sử hào hùng của dân tộc. Rõ ràng thơ Đường luật là một thể thơ tuyệt mỹ, là món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống xã hội của chúng ta và là di sản văn hóa của các dân tộc Việt Nam chúng ta. Đối với tỉnh Cao Bằng là một bộ phận không thể tách rời với lịch sử văn hóa các dân tộc Việt Nam, thơ Đường luật bằng ngôn ngữ Tày, Nùng cũng  cùng chung một hành trình phát triển, tuy có muộn hơn so với những tỉnh thành khác nhưng cũng đã nổi lên nhiều tên tuổi như Hoàng ĐứcHậu, An Định, Thân Văn Lư...

Trải qua những bước thăng trầm, với sức sống mãnh liệt, bền bỉ, dưới ánh sáng của đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng, đặc biệt từ khi có Nghị quyết Trung ương V khóa VIII “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, ngọn lửa thơ Đường luật lại bừng sáng trên mọi miền của Tổ quốc. Phong trào thơ Đường ngày nay ở Cao Bằng là một minh chứng, là niềm tự hào, là điểm sáng của văn hóa các dân tộc Tỉnh. Hội thơ Đường ở Cao Bằng hiện nay đã có gần 60 hội viên đã có nhiều bài thơ theo thể thơ Đường, đến nay đã xuất 6 tập “Lửa rừng” để phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương; ngoài ra, hội viên của Hội còn tham gia sáng tác, in chung trong các tập  “Thắp sáng Đường thi” của toàn quốc, mở rộng giao lưu với các hội thơ tỉnh bạn, nhiều hội viên có tập thơ riêng và thường xuyên gửi bài đăng trên các báo của Tỉnh. Thơ Đường và tình yêu với thơ Đường chính là một thái độ tích cực đối với sự nghiệp bảo tồn các giá trị văn hóa và tinh thần của ông, cha để lại. Chúng ta yêu thơ Đường vì chúng ta yêu cái đẹp, cái

cao cả, tao nhã, hóm hỉnh, sâu sắc, uyển chuyển và tinh túy của thơ Đường, thông qua thơ Đường, các thi gia đã hun đúc, kết tinh vào trong đó những giá trị tinh thần cao cả đẹp đẽ của tâm hồn Việt Nam. Chính tình yêu sâu sắc với thơ Đường của các thi gia nó lại càng làm cho thơ Đường ngày càng phát triển, ngày càng trau chuốt, ngày càng sâu sắc tao nhã và tinh túy hơn. Giá trị của thơ Đường luật là như vậy, để bảo tồn và phát triển thể loại thơ Đường trong điều kiện hoàn cảnh như hiện nay, yêu cầu cấp ủy, chính quyền các cấp và nhất là các hội viên trong Hội thơ Đường Cao Bằng cần quan tâm thực hiện tốt những yêu cầu sau:

      1- Cấp ủy, chính quyền các cấp cần quan tâm hơn nữa, đề cao trách nhiệm với việc bảo tồn và phát triển thể loại thơ Đường, coi đó là di sản văn hóa dân tộc; có định hướng chỉ đạo rõ ràng đến mọi đối tượng, quan tâm đến việc bồi dưỡng cho các đối tượng nắm rõ được bản chất, những quy định của thể loại thơ Đường, tạo mọi điều kiện để cho các đối tượng ham muốn và có khả năng sáng tác được thơ Đường luật.

     2- Tạo điều kiện cơ sở vật chất cho Hội thơ Đường Cao Bằng hoạt động; thường xuyên tổ chức các đợt sáng tác, Hội trại sáng tác; tổ chức đi giao lưu với các Hội thơ

Đường của Tỉnh bạn.

    3- Từng thành viên trong Hội thơ Đường cần đề cao trách nhiệm tích cực sáng tác, bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương để sáng tác, ca ngợi cái hay, cái đẹp, đấu tranh với những tiêu cực, cái xấu... góp phần phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, góp phần xây dựng con người mới, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

   4-  Ban Chấp hành Hội thơ Đường tỉnh Cao Bằng cần tích cực hoạt động, vận động phát triển hội viên, thường xuyên nắm sát tình hình, nghiên cứu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, trong việc tạo điều kiện cho Hội thơ Đường hoạt động ngày càng thiết thực và hiệu quả./.

                                                                             HTP

Tác giả BBT