THÔNG BÁO

Chuc nam moi.jpgChào năm mới ! 2017
      Năm 2016 đã qua đi theo thời gian và những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ XII  đã thành công rất, rất tốt đẹp, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước. Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất nổi trội....
Xin tiếp tục giới thiệu phần V trong thi phẩm "108 bài thơ chọn dịch" của Phạm Đình Nhân
27-02-2014
Cảnh chùa Nôm.jpg  Nội dung do Nhà văn Ngọc Châu giới thiệu và dịch bổ xung.

18. MẠNH HẠO NHIÊN

 (689 – 740)

 

          Mạnh Hạo Nhiên, tên huý là Hạo, tự Hạo Nhiên, quê ở Tương Dương, sống ẩn  cư ở núi Lộc Môn thuộc tỉnh Hồ Bắc. Ông làm quan, từng giữ chức Tân khách Mạc phủ. Sống có khí tiết song lại thích an nhàn nên từ quan về ở ẩn. Ông mất năm 740 để lại tác phẩm Mạnh Hạo Nhiên thi văn tập gồm 4 cuốn.

 

34. XUÂN HIỂU

Nguyên tác :                      

             

           

             

              

 

 

Phiên âm :            Xuân hiểu

Xuân miên bất giác hiểu

Xứ xứ văn đề điểu

Dạ lai phong vũ thanh,

Hoa lạc tri đa thiểu!

 

Dịch thơ :   

          Buổi sáng mùa  xuân

                                    Phạm Đình Nhân

                                              Dịch 2006

Tỉnh giấc xuân trời sáng,

Tiếng chim hót nơi nơi,

Suốt đêm mưa gió thét,

Hoa rụng biết bao rồi!

 

               Sáng xuân

                                             Ngọc Châu

                                              Dịch 2013

 

Sáng xuân bừng tỉnh giấc nồng

Chim vui ca hát rộn trong vườn nhà

Đêm qua mưa gió đến là

Lá cành rơi rụng, xác hoa đầy vườn!

 

19. TÀO ĐƯỜNG

 

 

          Tào Đường, nhà thơ đời Vãn Đường, không rõ năm sinh và năm mất. Ông tên chữ là Nghiêu Tân, hiệu là Tố Quá đạo sĩ, người Quế Châu.

 

 

35. LƯU NGUYỄN DU THIÊN THAI

Nguyên tác :                       

                               

                               

                               

            

            

            

            

            

 

Phiên âm :   Lưu Nguyễn[1]  du Thiên Thai,

Thụ nhập Thiên Thai thạch lộ tân,

Vân hoà thảo tĩnh, quýnh vô trần.

Yên hà bất tỉnh sinh tiền sự,

Thuỷ mộc không nghi mộng hậu thân.

Vãng vãng kê minh nham hạ nguyệt

Thời thời khuyển phệ động trung xuân.

Bất tri thử địa quy hà xứ,

Tu tựu Đào Nguyên vấn chủ nhân.

 

Dịch thơ :   

                    Lưu Nguyễn chơi Thiên Thai

 

                                    Phạm Đình Nhân

                                              Dịch 2007

 

Vào động Thiên Thai vách đá ngăn,

Cỏ cây mây lá, sạch phong trần.

Khói sương chẳng ngộ sinh tiền kiếp,

Rừng suối không còn mộng hậu thân.

Gà gáy âm vang trăng dưới núi,

Chó kêu văng vẳng động mùa xuân.

Nơi đây không biết là đâu nhỉ,

Vào tận Đào Nguyên hỏi chủ nhân.

 

                   Lưu Nguyễn dạo Thiên Thai

                                             Ngọc Châu

                                              Dịch 2013

 

Thiên Thai vách động đá ngăn

Cỏ che, mây chắn, bụi trần sạch băng

Tiền kiếp gió sương cản giăng

Suối rừng rửa sạch phù vân mai ngày

Gáy vang gà gọi trăng đầy

Chó kêu đâu đó vui vầy động xuân

Đây là đâu, khách tần ngần

Đào Nguyên tìm hỏi chủ nhân cho tường.

 

20. THÔI ĐỒ

 

36. XUÂN TỊCH  LỮ  THỨ

Nguyên tác :              

            

            

            

            

            

            

          便  

            

 

Phiên âm :            Xuân tịch lữ thứ

Thuỷ lưu, hoa tạ, lưỡng vô tình,

Tống tận đông phong quá Sở thành.

Hồ điệp mộng trung gia vạn lý,

Đỗ quyên chi thượng nguyệt tam ca.

Cố viên thư động kinh niên tuyệt,

Hoa phát xuân thôi lưỡng mấn sinh.

Tự thị bất quy, quy tiện đắc,

Ngũ hồ[2]  yên cảnh hữu thuỳ tranh?

 

Dịch thơ :            

                      Đêm xuân xa nhà

                                

                                   Phạm Đình Nhân

                                              Dịch 2007

Hoa trôi nước chảy khéo vô tình,

Nhờ gió đông đưa tận Sở thành.

Giấc điệp mơ nhà xa vạn nẻo,

Đầu cành quyên hót nguyệt ba canh.

Thư nhà đã vắng tròn năm lẻ,

Hoa đón xuân cùng tóc bạc nhanh.

Không về, về cũng do mình quyết,

Mây khói Ngũ Hồ đẹp tựa tranh.

 

Đêm xuân lữ khách

                                                  Ngọc Châu

                                                  Dịch 2013

 

Vô tình - nước chảy, hoa trôi

Gió đông đưa đẩy tận nơi Sở thành

Đầu cành quyên hót ba canh

Xa nhà vạn nẻo mơ quanh đêm dài

Tròn năm vắng thư nhà rồi

Đón xuân tóc bạc da mồi bên hoa

Về hay không cũng do ta

Ngũ Hồ mây khói đúng là cảnh tranh.

 

21. THÔI HIỆU

( ? – 754)

 

Thôi Hiệu, nhà thơ đời Đường, người Biện Châu nay là huyện Khai Phong tỉnh Hà Nam. Đỗ tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ 13, đời Đường Huyền Tông (năm 725). Làm quan đến chức Tư huấn Viên ngoại lang.

37. HOÀNG HẠC LÂU

Nguyên tác :                          

                               

                               

                               

                               

                               

                               

            

        使    

 

 

Phiên âm :            Hoàng Hạc lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.

Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tải không du du.

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Dịch thơ :            

                     Lầu Hoàng Hạc (1)

                              

                                 Phạm Đình Nhân

                       Dịch 2007

1. Ai cưỡi hạc bay lâu quá rồi

Để lầu Hoàng Hạc mãi đơn côi

Hạc vàng bay mãi không quay lại

Mây trắng lượn hoài mãi chẳng thôi

Anh Vũ bờ non xanh cỏ biếc

Hán Dương sông lặng bóng cây ngồi

Hoàng hôn gợi nhớ quê đâu nhỉ?

Sương khói trên sông buồn chẳng nguôi     

                                     Phạm Đình Nhân

                                     Dịch 2005

                          

2. Hạc vàng ai cưỡi đi rồi,

Còn đây Hoàng Hạc lẻ loi một lầu.

Hạc vàng bay mất từ lâu,

Nghìn năm mây trắng trên đầu còn bay.

Hán Dương cổ thụ còn đây,

Vũ Châu(2) thơm ngát tràn đầy cỏ non.

Chiều hôm quê cũ đâu còn,

Trên sông khói sóng nỉ non giấc sầu.

                                     

                    Hoàng Hạc lâu

                                                Ngọc Châu

                                                 Dịch 2013

 

Ai cưỡi hạc bay đi mất rồi

Chỉ còn Hoàng Hạc lầu đơn côi

Rời xa, mãi mãi chim vàng vắng

Quanh quẩn,  muôn đời mây trắng trôi

Anh Vũ bờ xanh màu cỏ mọc

Hán Dương sông mát bóng cây ngồi

Hoàng hôn gợi nhớ quê đâu tá

Khói quyện sóng buồn chẳng thể nguôi.

 

38. TRƯỜNG CAN HÀNH

Nguyên tác :                (其一)

                           

                           

                           

        

       (其二)

                           

        

        

        

 

Phiên âm :   Trường  Can hành (Kỳ 1)

                   Quân gia hà xứ trú,

                   Thiếp trú tại Hoành Đường.

                   Đình thuyền tạm tá vấn,

                   Hoặc khủng thị đồng hương.

 

                     Trường Can hành (Kỳ 2)

Gia lâm cửu giang thuỷ,

Lai khứ cửu giang trắc,

Đồng thị Trường Can nhân,

Sinh tiểu bất tương thức.

Dịch thơ :   

                   Trường Can[3] hành khúc (kỳ 1)

                                          Phạm Đình Nhân

                                          Dịch 2006

 

Nhà chàng ở nơi đâu?

Hoành Đường[4] nhà thiếp đấy.

Dừng thuyền ta thăm hỏi,

Hẳn ta đồng hương đây?

 

                    Trường Can hành khúc (kỳ 2)

 

                                     Phạm Đình Nhân

                          Dịch 2006

                  

                    Nhà anh bên Cứu Long giang

                   Cứu Long nơi ấy anh thường lại qua

                   Trường Can  quê của chúng ta

                   Vì em còn nhỏ sao mà biết anh.

                   

Khúc           hát đường Trường Can (1)    

 

                                               Ngọc Châu

                                               Dịch 2013

 

Xin hỏi, nhà chàng nơi đâu

Còn thiếp ở Hoành Đường đấy

Dừng thuyền ta hỏi thăm nhau

Dễ là đồng hương, chắc vậy.

 

                     Khúc hát đường Trường Can (2)

 

                    Nhà anh miền đất chín sông

Cửu giang vẫn thường qua lại

Trường Can hẳn là quê chung

Hậu sinh nàng chưa  biết tới.

                  

 

22. THÔI HỘ

 

          Thôi Hộ quê ở Bác Lãng, nay là Hà Bắc. Đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 12 (796), làm quan đến chức Tiết độ sứ.

39. ĐỀ ĐÔ THÀNH NAM TRANG

Nguyên tác :                       

                               

                               

                               

                               

 

Phiên âm :   Đề Đô thành nam trang[5]

Tích niên kim nhật thử môn trung,

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.

Nhân diện bất tri hà xứ khứ,

Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

Dịch thơ :   

                    Viết ở trại phía nam Đô thành

                                      Phạm Đình Nhân

                            Dịch 2004

1. Chốn đây, ngày ấy, năm nào,

Người xinh sánh với hoa đào hồng tươi.

Má đào nay ở đâu  rồi,

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông?

                                            

                                                    Dịch  2012

 

2. Năm trước ngày nay tại chốn này

Hoa đào, má phấn đỏ hây hây

Má hồng nay đã đi đâu nhỉ?

Để lại hoa đào với gió mây

3. Ngày này năm trước ở nơi đây

Má phấn hoa đào đẹp ngất ngây

Nay đến má hồng không thấy nữa

Đào hoa năm trước vẫn còn đây

 

Thơ viết ở nam trại Đô Thành

 

                                               Ngọc Châu

                                               Dịch 2013

 

Năm xưa ngày ấy ở chốn này

Hoa đào bên má thắm ngất ngây

Má thắm giờ đây đâu rồi nhỉ

Để một đào hoa hóng gió tây

                  

23. TRẦN ĐÀO

 

Trần Đào tự là Tung Bá. Quê ở Hà Dương tỉnh Giang Tây. Nhiều lần thi không đỗ, ông về ở ẩn, tự xưng là: “Tam giáo bố y” (áo vải của ba giáo). Bài thơ Lũng Tây hành được xem như bài thơ hay nhất trong dòng thơ biên tái của Trần Đào.

 

40. LŨNG TÂY HÀNH

Nguyên tác :                     西  

            

            

            

            

 

 

Phiên âm :            Lũng  Tây[6]  hành

Thệ tảo Hung nô bất cố thân,

Ngũ thiên điêu cẩm[7]  táng hồ trần.

Khả liên Vô Định[8]  hà biên cốt,

Do thị xuân khuê mộng lý nhân.

Dịch thơ :             Hành khúc Lũng Tây

Thề diệt Hung Nô không tiếc thân,

Năm nghìn tướng sĩ đã lìa thân,

Bên dòng Vô Định đầy xương cốt,

Thương kẻ khuê phòng mộng gối xuân.

                                                        Dịch 2007

 

                            Hành khúc Lũng Tây

 

                                               Ngọc Châu

                                               Dịch 2013

 

Xả thân thề diệt Hung Nô

Năm nghìn tráng sĩ chung mồ nơi đây

Dòng Vô Định xương chất đầy

Thương bao khuê phụ đêm ngày chờ mong.

.

Tác giả BBT