THÔNG BÁO

Chuc nam moi.jpgChào năm mới ! 2017
      Năm 2016 đã qua đi theo thời gian và những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ XII  đã thành công rất, rất tốt đẹp, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước. Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất nổi trội....
Xin tiếp tục giới thiệu phần Bốn của tập thơ " 108 bài thơ Đường chọn dich ".của Phạm Đinh Nhân
21-11-2013
   01.jpg         

Do dich giả Ngọc Châu biên tập và dịch bổ xung:


 

11. HẠ TRI CHƯƠNG

(659 – 744)

 

          Hạ Tri Chương, tự là Qui Chân. Quê ở Vĩnh Hưng, Việt Châu, tỉnh Quảng Đông. Ông giỏi thơ văn, diễn thuyết, đàm luận. Ông là bạn thân của Lý Bạch. Đỗ tiến sĩ năm 684 đời Đường Trung Tông được bổ làm Thái thường Bác sĩ. Thời Khai Nguyên đời Đường Huyền Tông, ông làm Thị lang Bộ Lễ kiêm Tập Hiền viện Học sĩ, sau là Thái tử tân khách rổi Bí thư giám. Đầu đời Thiên Bảo, ông xin từ quan về làm đạo sĩ.

 

  20. HỒI  HƯƠNG NGẪU THƯ

Nguyên tác :                        

           

           

           

           

 

Phiên âm :   Hồi hương ngẫu thư

Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi,

Hương âm vô cải mấn mao tồi .

Nhi đồng tương kiến bất tương thức,

Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai.

 

Ngẫu hứng viết khi về làng

 

                                    Phạm Đình Nhân

                                              Dịch 2006

Còn bé đi xa, về đã già

Giọng quê không đổi, tóc phôi pha.

Trẻ con nhìn mãi mà không biết,

Cười hỏi khách từ đâu đến ta.

         

Ngẫu hứng khi về quê        

                                              Ngọc Châu

                                              Dịch 2013

Xa làng từ lúc bé thơ

Giọng quê không đổi, tóc giờ phôi pha

Lũ trẻ hỏi "người đâu ta?"

Chúng nhìn mãi chẳng nhận ra người làng

 

12. HOÀNG SÀO

(?–884),

          Hoàng Sào, người Sơn Đông, là một lãnh tụ khởi nghĩa nông dân nổi tiếng trong thời kỳ cuối Đường. Hoàng Sào xuất thân từ gia đình thương nhân, giao thiệp rộng, thích làm việc nhân nghĩa, giỏi võ nghệ. Vào thời kỳ cuối Đường, phong trào nông dân khởi nghĩa chống giai cấp phong kiến nổi lên ở nhiều nơi. Năm 874, Vương Tiên Chi lãnh đạo nông dân ở Sơn Đông nổi dậy. Năm 875, Hoàng Sào đem quân do ông chiêu tập tham gia phong trào của Vương Tiên Chi. Nhân dân vùng hạ lưu sông Hoàng Hà tham gia khởi nghĩa rất đông. Năm 878, Vương Tiên Chi chết, ông tự xưng là "Xung thiên đại tướng quân".

          Năm 881, nghĩa quân của Hoàng Sào tiến vào kinh đô Trường An, vua Đường Hi Tông phải bỏ chạy sang Thành Đô, Tứ Xuyên. Hoàng Sào lên ngôi hoàng đế, đặt tên nước là Đại Tề và niên hiệu là Kim Thống.

Nhưng chính quyền chưa kịp củng cố thì đã chia rẽ. Quân đội nhà Đường, tấn công chiếm lại Trường An.

Năm 883, Hoàng Sào phải bỏ Trường An, Tháng Sáu năm 884, Hoàng Sào tự sát tại Lang Hổ cốc (gần Lai Vu, tỉnh Sơn Đông ngày nay). Không chỉ có tài võ, Hoàng Sào còn là một nhà thơ. Bài thơ nổi tiếng nhất của ông còn lưu lại trong tập thơ Đường chính là bài "Đề cúc hoa":

 

      21. ĐỀ CÚC HOA

 

Nguyên tác:                

西 滿

 

 

Phiên âm:             Đề cúc  hoa

Táp táp tây phong mãn viên tài,

Nhị hàn hương lãnh điệp nan lai.

Tha niên ngã nhược vi Thanh Đế,

Báo dữ đào hoa nhất xứ khai.

 

Dịch thơ:             

 

          Đề hoa cúc

                                    Phạm Đình Nhân

                                              Dịch 2006

 

1. Đầy vườn man mác gió tây,

Hương hoa lạnh lẽo, bướm bay  lượn vòng.

Nếu là Thanh Đế sang năm,

Lệnh truyền đào nở tưng bừng khắp nơi.

 

2. Xao xác đầy vườn ngập gió tây

Nhụy hoa hương lạnh bướm khôn bay

Xuân sang năm tới ta làm chúa

Lệnh nở hoa đào khắp chốn đây

 

        Nói cùng hoa cúc 

                                          Ngọc Châu

                                          Dịch 2013

 

Gió tây xao xác lá trong vườn

Bướm ngại bay, hoa cũng lạnh hương

Sang năm Thanh Đế lên ngôi báu

Sẽ lệnh cho đào nở muôn phương

 

 

13. LƯU TRÙNG KHANH

 

Lưu Trùng Khanh tự là Vân Phong, quê ở Hà Gian, tỉnh Hà Bắc. Đỗ tiến sĩ năm 733 thời Khai Nguyên đời vua Đường Huyền Tông. Đến đời Đường Đức Tông làm Giám sát Ngự sử sau đổi sang Tư bộ viên ngoại lang, Chuyển vận sứ phán quan. Vì tính tình ngay thẳng, ông bị vu oan nên bị giam ở ngục Cô Tô rồi bị hạ làm chức Úy tại Nam Ba, Phân Châu. Sau được đổi làm Tư mã Mục Châu và cuối cùng làm Thứ sử Tuỳ Châu.

 

22. TỐNG LINH TRIỆT

Nguyên tác :                   

       

       

  

 

Phiên âm :   Tống Linh Triệt

Thương thương Trúc Lâm tự,

Yểu yểu chung thanh văn.

Hạ lạp đới tà dương,

Thanh sơn độc quy viễn

Dịch thơ :

         

Tiễn Linh Triệt thiền sư

                                  Phạm Đình Nhân

                                            Dịch 2006

Chùa Trúc Lâm xanh xanh,

Nghe chuông chùa mông mênh.

Nón nghiêng dưới nắng tà,

Một mình về núi xanh.

                    

Tiễn thiền sư Linh Triệt

                                  Ngọc Châu

                                            Dịch 2013

Ngôi chùa Trúc Lâm xanh xanh

Chuông đang thả tiếng mông mênh gọi chiều

Nắng tà người chắn nón  xiêu

Một mình về hướng núi chiều lam xanh

 

 

14. LƯU VŨ TÍCH

(772 – 842)

 

Lưu Vũ Tích tự là Mông Đắc, quê huyện Bành Thành, tỉnh Giang Tô. Thời Trinh Nguyên đời Đường Đức Tông, ông đỗ tiến sĩ. Được cử làm Giám sát Ngự sử. Thời kỳ Vương Thúc Vân cầm quyền, ông được trọng dụng, lúc Vương Thúc Vân bị bãi chức ông bị hạ làm Tư mã Lang Châu. Ít lâu sau được triệu hồi về, nhưng vì làm thơ chỉ trích đại thần, nên bị Đường Hiến Tông hạ chức đưa đi Ba Châu, sau được đổi sang Liên Châu. Sau hơn 14 năm ở ngoài, được về triều làm Chủ khách lang trung, Tập hiền viện Học sĩ. Rồi lại làm thơ chỉ trích triều chính, nên lại bị hạ chức đưa đi làm Thứ sử Tô Châu,  rồi Nhữ Châu. Sau về triều làm chức Thái tử tân khách. Đời Đường Vũ Tông được phong Thượng thư bộ Lễ. Ông là bạn thân của Bạch Cư Dị.

 

23. TÂY  TÁI  SƠN  HOÀI  CỔ

 

Nguyên tác:     西       

           

           

           

           

           

           

           

           

 

Phiên âm :            Tây Tái Sơn[1]  hoài cổ

 

Vương Tuấn[2]  lâu thuyền há Ích Châu,

Kim Lăng vương khí ám nhiên thâu.

Thiên tầm thiết toả trầm giang để,

Nhất phiến hàng phan xuất Thạch Đầu.

Nhân thế kỷ hồi thương vãng sự,

Sơn hình y cựu trầm hàn lưu.

Tòng kim tứ hải vi gia nhật,

Cố luỹ tiêu tiêu lô địch thu.

 

Dịch thơ :            

 

Nhớ núi Tây Tái xưa

                                  Phạm Đình Nhân

                                            Dịch 2006

 

Vương Tuấn đưa thuyền tự Ích Châu,

Kim Lăng vương khí quyết tâm sâu.

Đáy sông xích sắt tan chìm hết,

Cờ trắng lộ bay khắp Thạch Đầu.

Cõi thế sự, ai thương chuyện cũ,

Núi như xưa, cũng lạnh sông sâu.

Từ nay bốn bể xem như một,

Thành cũ tiêu điều thu lách lau.

 

Nhớ núi xưa Tây Tái

                                  Ngọc Châu

                                            Dịch 2013

Ích Châu, Vương Tuấn đưa thuyền

Kim Lăng ngạo khí lan truyền tâm trung

Xích sắt đáy sông phá tung

Thạch Đầu cờ trắng khắp vùng gió bay

Chuyện cũ ai thương xót ngày

Sông xưa núi ấy giờ đây lạnh sầu

Bốn bể quy về một đầu.

Tiêu điều thành cũ lách lau thu tàn

 

24. THẠCH ĐẦU  THÀNH

Nguyên tác :                      

           

           

           

           

Phiên âm :            Thạch Đầu thành

Sơn vi cố quốc chu tao tại,

Triều đả không thành tịch mịch hồi.

Hoài thuỷ[3]  đông biên cựu thời nguyệt,

Dạ thâm hoàn quá tự tường lai.

 

Dịch thơ :   

         

Thành Thạch Đầu

                                  Phạm Đình Nhân

                                            Dịch 2007

 

Núi vây bốn phía nước non xưa,

Sóng vỗ thành không, nhịp sớm trưa,

Hoài thuỷ ven đông trăng vẫn chiếu

Qua tường thành cũ giữa đêm khuya.

              

Thành Thạch Đầu

                                  Ngọc Châu

                                            Dịch 2013

Núi bao bốn phía đất xưa

Thành hoang sóng vỗ nhịp trưa đến chiều

Đông Hoài thủy trăng chiếu đều

Qua tường thành cũ xanh rều đêm khuya.

 

25. XUÂN  TỪ

 

Nguyên tác :             

           

           

           

           

Phiên âm :            Xuân từ

Tân trang nghi diện hạ châu lâu,

Thâm toả xuân quang nhất viện sầu.

Hành đáo trung đình sổ hoa đoá,

Tinh đình phi thướng ngọc tao đầu.

 

 

Dịch thơ :            

 

Lời mùa xuân

                                  Phạm Đình Nhân

Cây cỏ xanh tươi, liễu sắc vàng

Đào hoa tơi tả, mận đưa hương.

Gió đông không thổi sầu đi khỏi,

                  Xuân đến càng thêm nỗi hận trường.

                                           Dịch 2007

 

 

Lời Xuân                                  

                                  Ngọc Châu

                                            Dịch 2013

Trang điểm xong, nàng mới xuống lầu,

Ánh xuân khóa kín vẻ u sầu,

Trong sân nàng đếm bông hoa  nở,

Chuồn đậu trên trâm ngọc dắt đầu

 

15. LÝ BẠCH

(701 – 762)

 

Lý Bạch , nhà thơ nổi tiếng đời Đường (Trung Quốc) sinh tại Tây Vực. Ông nổi tiếng thông minh, hào hiệp. Sống đời nhàn tản ngao du thiên hạ. Đến năm 40 tuổi mới đến kinh đô Trường An, được phong làm Học sĩ tại Viện Hàn Lâm. Sau khi Lý Bạch mất (năm 702), người ta thu thập thơ của ông thấy rằng trong số 2 vạn bài thơ ông làm khi sinh thời, chỉ còn rất ít. Đến đời Tống, năm 1080, Tống Mãn Cầu góp lại được 1800 bài soạn thành Lý Bạch thi tập gồm 30 quyển.

 

 

26. OÁN TÌNH

Nguyên tác :                     

                          

                          

                          

                          

Phiên âm :            Oán tình

Mỹ nhân quyện châu liêm,

Thâm tọa, tần nga mi.

Đản kiến lệ ngân thấp,

Bất tri tâm hận thùy.

Dịch thơ :            

 

 Hận tình

                                  Phạm Đình Nhân

                                            Dịch 2004

 

Mỹ nhân vừa vén rèm châu,

Chau mày ngồi đó rất lâu nghĩ gì.

Lệ buồn thấm ướt đầm mi,

Biết chăng lòng hận nỗi gì hỡi ai?

 

 Tình hận

 

                                 Ngọc Châu

                                            Dịch 2013

Mĩ nhân vén rèm ngọc

Chau mày ngồi buồn sâu

Hàng mi lệ thấm ướt

Hận gì khiến lòng sầu?

 

27. TÔ ĐÀI LÃM CỔ (1)

Nguyên tác :                        

                              

                             

                           西   

                              

Phiên âm :             Tô Đài lãm cổ

Cựu uyển, hoang đài dương liễu tân,

Lăng ca thanh xướng bất thăng xuân

Chí kim duy hữu Tây Giang nguyệt,

Tằng chiếu Ngô vương cung lý nhân.

 

Dịch thơ :            

Thăm đài Cô Tô cũ

                                  Phạm Đình Nhân

                                            Dịch 2005

 

Vườn xưa, đài vắng, liễu ngân,

Lăng ca giọng hát khúc xuân đâu còn

Chỉ còn bóng nguyệt Tây Giang,

Từng soi mỹ nữ cung tàn Ngô vương.

                        

Thăm đài  Cô Tô xưa

                                Ngọc Châu

                                            Dịch 2013

 

Đài vắng, vườn xưa liễu vẫn ngân

Không còn những khúc lãng ca xuân

Tây Giang nguyệt cũ đang in bóng

Rọi dáng xưa Ngô Vương cung tần

 

28. SƠN TRUNG VẤN ĐÁP

 

Nguyên tác :                         

                               

                              

                              

           

Phiên âm :            Sơn trung vấn đáp

Vấn dư hà sự thê bích san,

Tiếu nhi bất đáp tâm tự nhàn.

Đào hoa lưu thủy yểu nhiên khứ,

Biệt hữu thiên địa phi nhân gian.

 

Dịch thơ :             

Hỏi đáp trong núi

                                  Phạm Đình Nhân

                                            Dịch 2004

 

Cớ sao vào núi nghỉ ngơi,

Nhàn tâm, ta chỉ mỉm cười lặng im.

Hoa trôi, nước chảy tự nhiên,

Không người trần thế, ta riêng đất trời.

 

Hỏi nhau trong núi

                                Ngọc Châu

                                            Dịch 2013

 

Người hỡi sao vào núi nghỉ ngơi

Nhàn tâm, ta lặng để môi cười

Hoa trôi nước chảy cùng năm tháng

Trần thế chỉ ta với đất trời

 

29. VIỆT TRUNG LÃM CỔ

Nguyên tác :                         

                              

                              

                           滿    殿

                              

 

Phiên âm :            Việt trung lãm cổ

Việt vương Câu Tiễn phá Ngô quy,

Nghĩa sĩ hoàn gia tận cẩm y,

Cung nữ như hoa mãn xuân điện,

Chỉ kim duy hữu giá cô phi.

 

Dịch thơ :            

 

Thăm nước Việt xưa

                                  Phạm Đình Nhân

                                            Dịch 2007

 

Việt vương Câu Tiễn thắng Ngô về,

Áo gấm ban cho  nghĩa sĩ mê                     

Cung nữ như hoa đầy điện ngọc,

Mà nay chỉ thấy cánh chim về.

 

Thăm nước Việt xưa

                                Ngọc Châu

                                Dịch 2013

 

Thắng Ngô, Câu Tiễn quay về

Việt Vương ban gấm hồi quê tướng hùng

Giai nhân hoa ngọc đầy cung

Giờ chỉ thấy cánh chim cong giữa trời.

 

30. KHÁCH TRUNG TÁC

 

Nguyên tác :                       

           

           

  使         

           

 

Phiên âm :            Khách trung tác

Lan Lăng[4] mỹ tửu uất kim hương,

Ngọc uyển thịnh lai hổ phách quang.

Đản sử chủ nhân năng tuý khách,

Bất tri hà xứ thị tha hương.

 

Dịch thơ :             

 

Làm thơ nơi đất khách

 

                               Phạm Đình Nhân

                                         Dịch 2007

 

Lan Lăng rượu quý tỏa thơm hương,

Chén ngọc lung linh như ánh gương

Giá chủ biết mời say khách được,

Biết đâu xứ ấy đất tha hương.

 

Thơ viết ở xứ người

 

                                Ngọc Châu

                                            Dịch 2013

 

Lan Lăng rượu quí thơm hương

Lung linh chén ngọc như gương gợi mời

Giá chủ khéo chuốc say người

Biết đâu ta chẳng một đời tha hương.

 

 

16. LÝ THIỆP

 

31. MỤC ĐỒNG TỪ

Nguyên tác :                      

   

       

   

       

           

            绿

          滿 

          

 

 

Phiên âm:             Mục đồng từ

                   Triêu mục ngưu,

Mục ngưu hạ giang khúc.

Dạ mục ngưu,

Mục ngưu thôn khẩu cốc.

Hạ thôi, xuất lâm, xuân vũ tế,

Lô quản, ngoạ xuy, sa thảo lục.

Loạn sáp bồng cao tiễn mãn yêu,

Bất phạ mãnh hổ khi hoàng độc.

 

Dịch thơ:             

 

Bài ca chăn trâu

                               Phạm Đình Nhân

                                            Dịch 2007

 

Buổi sớm em chăn trâu,

Cho trâu ăn cuối sông.

Buổi chiều em chăn trâu,

Cho trâu về cuối xóm.

Mưa xuân nhẹ phủ cây rừng,

Bãi xanh nằm thổi tưng bừng kèn lau.

Mũi tên bồng dắt khắp đầu,

Sợ gì hổ dữ bắt trâu của mình.

 

Chăn trâu

                                Ngọc Châu

                                            Dịch 2013

 

Buổi sáng em chăn trâu

Cuối sông cho gặm cỏ

Buổi chiều cũng chăn trâu

Cuối xóm về hóng gió

 

Xuân nhẹ  phủ mưa lên lá nõn

Nằm thổi kèn lau giữa bãi xanh

Quanh đầu dắt bao nhiêu tên nhọn

Cóc sợ  hổ rình bắt trâu lành.

 

 

17. LÝ THƯƠNG ẨN

(813 – 858)

 

          Lý Thương Ẩn tự là Nghiã Sơn, hiệu là Ngọc Khê sinh. Quê tỉnh Hà Nam. Năm 837 đỗ tiến sĩ. Sau được bổ làm Quan sát phán quan. Sau nhờ  Liễu Trọng Hĩnh, trấn thủ miền Đông Thục, ông được dùng làm Tiết độ phán quan kiêm hiệu Công bộ viên ngoại lang. Ông mắc bệnh ở đất Oanh Dương rồi mất ở đó năm 858.

 

32. TRÙ BÚT DỊCH

Nguyên tác:                 

           

           

           

           

           

           

           

           

 

 

Phiên âm :            Trù Bút[5]  dịch

Ngư điểu do nghi uý giản thư,

Phong vân thường vị hộ trừ tư.

Đồ linh thượng tướng[6]  huy thần bút,

Chung kiến hàng vương[7] tẩu truyện xa.

Quản Nhạc[8]  hữu tài nguyên bất thiểm,

Quan Trương[9]  vô mệnh phục hà như.

Tha niên Cẩm Lý[10]  kinh từ miếu,

Lương phủ[11]  ngâm thành hận tự dư.

 

 

Dịch thơ :   

 

Trạm Trù Bút

 

                                Phạm Đình Nhân

                                            Dịch 2006

 

Cá chim e ngại sợ đơn thư,

Mây gió ngoài biên ải có dư?

Thượng tướng dù trong tay múa bút,

Hàng vương cũng phải ngậm ngùi tù.

Quan trương mệnh yếu đành không nổi,

Quản Nhạc tài cao, chẳng phục thù.

Cẩm Lý năm qua vào viếng miếu,

Phủ Lương ngâm hết hận còn thù.

Dịch 2006

 

Viết ở trạm ngựa Trù Bút

 

                                Ngọc Châu

                                            Dịch 2013

 

Cá, chim còn sợ đơn thư

Ngoài biên mây gió thừa dư chăng là?

Thượng tướng dẫu vung bút hoa

Hàng vương đầy ải nơi xa ngậm ngùi

Quan, Trương mệnh yểu đã rồi

Tài cao Quản Nhạc mấy hồi thịnh hưng

Qua Cẩm Lý vào miếu thăm

Phú Lương ngâm hết còn găm hận thù...

 

 

33. VÔ ĐỀ

Nguyên tác:                 

           

           

           

           

           

           

           

           

 

 

Phiên âm:              Vô đề

Tương kiến thời nan biệt diệc nan,

Đông phong vô lực bách hoa tàn.

Xuân tàm đáo tử ty phương tận,

Lạp chúc thành hôi lệ thuỷ can.

Hiểu kính đản sầu vân mấn cải,

Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn.

Bồng lai thử khứ vô đa lộ,

Thanh điểu ân cần vị thâm khan.

 

Dịch thơ:               

 

 Không đề

                                 Phạm Đình Nhân

                                           Dịch 2006

 

 

Gần khó gặp nhau, xa cũng khan,

Gió đông không mạnh, trăm hoa tàn.

Tằm xuân đến chết tơ còn vướng,

Nến cháy cạn rồi, lệ chửa tan.

Sáng dậy soi gương, rầu mái tóc,

Tối ngồi ngâm vịnh, lạnh trăng tàn.

Bồng Lai đi mãi không cùng tận

Chim có đưa đường mới thấy an,

                

Vô đề

 

                                Ngọc Châu

                                            Dịch 2013

 

Gần khó gặp, xa hiếm khan

Gió đông không mạnh mà tàn trăm hoa

Chết rồi tằm còn nhả tơ

Nến dù cháy cạn lệ mờ vương chân

Sáng soi gương thấy tóc sần

Tối ngồi ngâm ngợi, trăng gần lạnh sao

Tìm Bông Lai mãi nơi nao

Nhờ chim dẫn lối  ra vào ơi chim.

 

 

(Còn tiếp phần 5)

 

 

 



[1] Tây Tái sơn : ngọn núi thuộc huyện Đại Trí, tỉnh Hồ Bắc.

[2] Vương Tuấn : Thứ sử Ich Châu (thuộc Tứ Xuyên ngày nay) được vua Tấn Vũ Đế sai đi đánh nước Ngô. Quân Ngô giăng khoá xích sắt dưới đáy sông để ngăn thuyền địch. Vương Tuấn thiêu huỷ hết chướng ngại vật, rồi tiến quân thẳng tới thành Thạch Đầu (ở dưới núi Thạch Đàu, phía tây huyện Giang Ninh, tỉnh Giang Tô).

[3] Hoài thuỷ : Sông Tân Hoài

(1) Tô Đài là đài Cô Tô cũ do Ngô Phù Sai cho dựng lên để mua vui cùng Tây phi

[4] Lan Lăng : một địa phương ở phía đông huyện Dịch, tỉnh Sơn Đông.

[5] Trù Bút dịch : Trạm ngựa Trù Bút ở phía bắc huyện Quảng Nguyên, tỉnh Tứ Xuyên, nơi Khổng Minh thời Tam Quốc có đóng quân tại đây, trù tính kế hoạch.

[6] Thượng tướng : Chỉ Khổng Minh Gia Cát Lượng.

[7] Hàng vương : Chỉ vua Thục Lưu Thiện đầu hàng nước Nguỵ.

[8] Quản Nhạc : Chỉ Quản Trọng, chính trị gia nổi tiếng thời Xuân Thu và Nhạc Nghị, danh tướng thời Chiến Quốc.

[9] Quan Trương : Chỉ Quan Vũ và Trương Phi, hai danh tướng của Lưu Bị.

[10] Cẩm Lý : tên địa phương ở phía nam Thành đô, tỉnh Tứ Xuyên.

[11] Lương phủ ngâm : tên tác phẩm của Khổng Minh

Tác giả