THÔNG BÁO

Chuc nam moi.jpgChào năm mới ! 2017
      Năm 2016 đã qua đi theo thời gian và những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ XII  đã thành công rất, rất tốt đẹp, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước. Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất nổi trội....
Xin tiếp tục giới thiệu phần Ba của thi tập " 108 bài thơ Đường chọn dịch"
06-10-2013
Hoàng hạc lâu.jpg 

Xin tiếp tục giới thiệu phần Ba của thi tập " 108 bài thơ Đường chọn dịch"

Của Dịch giả Phạm Đình Nhân, do nhà văn Ngọc Châu giới thiệu :

6. ĐỚI THÚC LUÂN

(732 – 789)

 

            Đới Thúc Luân hiệu là Âu Công, quê Kim Đàn, Nhuận Châu, tỉnh Giang Tô. Làm Chủ vận tại Hồ nam, Tiết độ sứ ở Kiếm Nam, Giang Tây. Sau được phong tước Tiều Huyện nam, cử làm Thứ sử Phủ Châu, rồi được thăng làm Dong quản Tiết độ sứ, nổi tiếng về việc phủ dụ dân Mường, Mán. Về sau ông từ quan về làm đạo sĩ.

 

15. PHÙNG NHẬP KINH SỨ

Nguyên tác :                    使

           

           

           

           

 

 

Phiên âm :                 Phùng nhập kinh sứ

Cố viên đông vọng lộ man man,

Song tụ long chung lệ bất can.

Mã thượng tương phùng vô chỉ bút,

Bằng quân truyền ngữ báo bình an.

Dịch thơ :                  

                 Gặp sứ giả vào kinh

 

Phạm Đình Nhân

                                                                        Dịch 2007

 

Cố hương đường xá quá gian nan,

Áo ướt lệ rơi chẳng thể khoan.

Lưng ngựa gặp nhau không giấy bút,

Nhắn rằng tôi vẫn được bình an.

 

             Thượng kinh sứ giả gặp người

                  

Ngọc Châu

Dịch 2013

 

Cố hương đường xá gian nan

Lệ rơi áo ướt dám màng nghỉ ngơi

Không giấy bút lúc gặp người

Nhắn mồm, tôi vẫn ơn trời bình an

                

7. ĐƯỜNG MINH HOÀNG

(685 – 761)

 

            Đường Minh Hoàng tức vua Đường Huyền Tông đời nhà Đường, tên thật là Lý Long Cơ, con thứ ba vua Đường Duệ Tông, cháu của Võ Tắc Thiên. Làm vua từ năm 713 đến năm 756  qua hai niên hiệu Khai Nguyên và Thiên Bảo. Do tin dùng Lý Lâm Phủ và sủng ái Dương Quý Phi nên đưa đến loạn An Lộc Sơn, phải dời sang đất Thục, truyền ngôi cho thái tử lên là Đường Túc Tông. Về cuối đời Minh Hoàng sống rất cô đơn vì bị cách ly với những người thân cận. Bài thơ Trường hận ca của Bạch Cư Dị được lưu truyền lâu dài đã nói lên cuộc tình diễm lệ của Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi.

16. KINH LỖ TẾ KHỔNG TỬ  NHI

THÁN CHI

Nguyên tác :魯祭孔子而歎之

           

           

           

           

           

           

           

           

Phiên âm :Kinh Lỗ tế Khổng tử nhi thán chi

Phu tử hà vi giả,

Thê thê nhất đại trung.

Địa do Châu thị ấp[1],

Trạch tức Lỗ Vương cung[2] .

Thán phụng[3]  ta thân bĩ ,

Thương lân[4]  oán đạo cùng.

Kim khan lưỡng doanh điện,

Đương dữ mộng thời đồng.

Dịch thơ :

Cảm than khi qua nước Lỗ

                        tế Khổng tử

Phạm Đình Nhân

                                                              Dịch 2008

                     Khổng tử đã làm gì,

                        Cả đời đi cùng khắp

Quê hương Châu thị ấp[5],

Nhà định xây Lỗ cung[6].

Phượng than[7] thân khôn cùng

Lân đau[8] đạo mất thôi.

Nay xem hai miếu điện,

Thật như chiêm bao rồi.

Ngọc Châu

                                                              Dịch 2013

 

 Khổng Tử  xưa làm những gì

Cả đời bôn trải tỉnh quê trăm miền

Quê hương Châu thị ấp quen

Lỗ cung xưa định xây trên đất nhà

Phượng thở than chẳng an hòa

Lân đau oán việc đạo ra đứng đường

Nay xem hai miếu tỏ tường

Thật mà cứ tưởng mình đương ngủ vùi.

                       

8. GIẢ CHÍ

(718-772)

Tên tự Ấu Lâm , người Lạc Dương.

17. XUÂN TỨ

Nguyên tác :      

           

           

           

           

Phiên âm :                   Xuân tứ

Thảo sắc thanh thanh liễu sắc hoàng,

Đào hoa lịch loạn, lý hoa hương,

Đông phong bất vị xuy sầu khứ,

Xuân nhật thiên năng nhạ hận trường.

Dịch thơ :                  

  Ý xuân

Phạm Đình Nhân

                                                              Dịch 2007

Cây cỏ xanh tươi, liễu sắc vàng

Đào hoa tơi tả, mận đưa hương.

Gió đông không thổi sầu đi khỏi,

Xuân đến càng thêm nỗi hận trường.

 

Ý xuân

Ngọc Châu

                                                              Dịch 2013

 

Liễu vàng, cây cỏ xanh xanh

Hoa đào tan tác mận dành chút hương

Gió chưa tiễn sầu lên đường

Xuân về khiến nỗi hận trường thêm sâu.

 

 

9. GIẢ ĐẢO

(793 – 865)

           

Giả Đảo tên chữ là Lăng Tiên, hiệu là Kiệt Thạch sơn nhân, quê ở Phạm Dương, tỉnh Hà Bắc. Ông đi thi nhiều lần không đỗ. Xuất gia đi tu tại Lạc Dương, pháp danh là Vô Bản. Sau một thời gian tu tại chùa Thanh Long ở Trường An, Giả Đảo nghe lời khuyên của Hàn Dũ, ông phá giới, mặc áo nho sinh. Ông hay làm thơ ta thán và bài bác. Vì làm thơ chỉ trích Tể tướng (năm 821, đời Đường Mục tông), nên bị giáng chức.

 

18. ĐỘ TANG CÀN

Nguyên tác :                 

           

           

           

           

 

Phiên âm :                 Độ Tang Càn

Khách xá Tinh Châu[9] dĩ thập sương,

Qui tâm nhất dạ ức Hàm Dương[10].

Vô đoan cánh độ Tang Càn thuỷ,

Khước vọng Tinh Châu thị cố hương.

Dịch thơ :                  

Qua sông Tang Càn

Phạm Đình Nhân

                                                              Dịch 2006

 

Ở trọ Tinh Châu đã chục sương,

Hàm Dương ngày nhớ lại đêm thương.

Bỗng nhiên qua lại Tang Càn nhỉ,

Mong ước Tinh Châu là cố hương.

 

Tình cờ vượt sông Tang Càn

                                        Ngọc Châu

                                                              Dịch 2013

                        Tinh Châu ở trọ chục năm

Hàm Dương ngày nhớ đêm nằm lại mong

Qua Tang Càn chẳng đợi  trông

Tinh Châu giờ ước trong lòng cố hương

 

10. HÀN DŨ

(768-824)

            Hàn Dũ có tên tự là Thoái Chi, sinh quán ở Nam Dương nay thuộc tỉnh Hồ Bắc. Tổ phụ là người huyện Xương Lê, nên ông thường tự xưng là Hàn Xương Lê. Ông được xếp vào những tác gia của Trung Ðường. Mồ côi cha mẹ từ năm ba tuổi, rất thông minh, hai mươi bốn tuổi đỗ tiến sĩ. Bắt đầu bằng chức Thôi quan cho các Tiết độ sứ, rồi được thăng lên Ngự sử, rồi giữ chức Quốc tử giám Bác sĩ.

            Hàn Dũ viết bài Gián nghênh Phật cốt biểu (còn gọi là Luận Phật cốt biểu) dâng lên can gián Hiến Tông, lời lẽ rất đanh thép, cứng rắn, làm cho Hiến Tông vô cùng thịnh nộ, đã định đem ông ra chém. May nhờ có nhiều người can gián ông mới thoát chết, chỉ bị đày đến Triều Châu, thuộc Quảng Tây ngày nay. Ðây cũng chính là nơi ông để lại bài Tả thiên chí Lam Quan thị điệt tôn Tương và bài Tế ngạc ngư văn nổi tiếng. Bài Tế ngạc ngư văn đã khiến ông được Hiến Tông phục chức cho trở lại kinh đô giữ chức Quốc tử giám Tế tửu, sau đó được  thăng chức Binh bộ Thị lang.

 

19. TẢ THIÊN CHÍ LAM QUAN,

THỊ ĐIỆT TÔN TƯƠNG

 

Nguyên tác :   

                             

           

           

           

           

           

           

           

           

 

 

Phiên âm :     Tả thiên chí Lam Quan,

                     thị điệt tôn Tương

Nhất phong triêu tấu cửu trùng thiên,

Tịch hiếm Trào châu lộ bát thiên.

Bản vị thánh triều trừ tệ sự.

Cảm tương suy hủ tích tàn niên?

Vân hoành Tân lĩnh, gia hà tại.

Tuyết ủng Lam Quan, mã bất tiền!

Tri nhữ viễn lai ưng hữu ý,

Hảo thu ngô cốt chướng giang biên.

Dịch thơ :      

                Bị đi đầy dến ải Lam Quan, nhắn gửi cháu Tương

Phạm Đình Nhân

                                                              Dịch 2007

 

Sớm còn khuyên giúp vua hiền,

Chiều đầy xa xứ tới miền Triều Châu.

Vì vua ngăn nạn mọt sâu,

Thương thay thân đã mái đầu hoa râm.

Nhà đâu dưới áng mây Tần ?

Lam Quan tuyết lạnh, bước chân ngựa chùn

Từ xa, cháu nhớ cho tường,

Ven sông cố nhặt nắm xương ta về.

                     

                   Đầy ải Lam Quan, nhắn cháu Tương                                                         

                                                                 Ngọc Châu

                                                                 Dịch 2013

 

Buổi sớm còn khuyên giúp chúa hiền

Triều Châu đầy ải tối qua miền

Những mong ngôi báu không sâu mọt

Cảm thán thân tàn đã lão niên

Tân Lĩnh mây chiều nhà nóc khuất

Lam Quan tuyết lạnh ngựa chân mềm

Xa xôi điệt nữ ơi, mong cháu

Lượm nắm xương tàn cõi viễn biên

 

                                    Ngọc Châu - Giới thiệu

 

 



[1] Châu thị ấp : quê Khổng tử nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông.

[2] Xưa vua Lỗ định cho phá nhà cũ của Khồng tử để làm cung điện, nhưng khi đến nhà nghe thấy có tiếng vàng đá, tơ trúc, bèn thôi không phá nữa.

[3] Thán phụng : Con phượng than. Khổng tử có câu : “Đường Ngu chi thế hề, kim phi kỳ thời hề, lai hà cầu” (Thời Đường Ngu, lân phượng ra chơi, nay không phải thời thì đến làm chi) ngụ ý than thân lỡ vận.

[4] Thương lân : Con lân đau. Tương truyền khi Khổng tử sinh, có con lân xuất hiện. Khi đang soạn sách Xuân Thu nghe tin có người bắt được con lân què Ngài than rằng “Đạo ta cùng rồi” liền ngừng việc biên soạn sách.

[5] Xem chú thích 4

[6] Xem chú thích 5

[7] Xem chú thích 7

[8] Xem chú thích 6

[9] Tinh Châu : thành phố Thái Nguyên của Trung Quốc hiện nay.

[10] Hàm Dương : chỉ Trường An

Tác giả BBT