THÔNG BÁO

Chuc nam moi.jpgChào năm mới ! 2017
      Năm 2016 đã qua đi theo thời gian và những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ XII  đã thành công rất, rất tốt đẹp, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước. Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất nổi trội....
Giới thiệu tiếp những bài thơ của các nhà thơ Trung Quốc do Ngọc Châu biên tập
30-08-2013
Hoa động.gif Xin giới thiệu tiếp phần Hai

Ngọc Châu giới thiệu phần 2 tập
                                
"108 BÀI THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH"  
 
      ( Dịch giả Phạm Đình Nhân là Chủ tịch Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm UNESCO Thông tin tư liệu LS&VHVN, hiện ở 110 Ngõ 158 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội
    Năm nay bác đã trên 80 tuổi, thuộc vào lớp người "xưa nay hiếm". Hiếm vì là nhà thơ cao tuổi đã đành, nhưng hiếm nhất chính là vi bác thông hiểu Hán tự. Lớp người như bác đúng là càng ngày càng ít đi đối với đất nước chúng ta hiện nay. Vậy nên khi nhận được tập "108 BÀI THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH" của bác gửi tặng tôi nghĩ mình có trách nhiệm phải giới thiệu càng rộng rãi càng tốt tới mọi người yêu thơ - nhất là với những người yêu thích thơ luật Đường (TLĐ), hiện đang sinh hoạt ở rất nhiều Câu lạc bộ TLĐ trên toàn quốc. Cũng là góp phần nhỏ vào việc lưu giữ cho thế hệ sau một tài liệu tham khảo cho kho tàng thơ Đường thu thập được từ trước đến nay.
    Tập thơ gồm 108 bài thơ chọn dịch, chia làm hai phần.
    Phần thứ nhất gồm 50 bài thơ Đường của 30 nhà thơ Trung quốc xếp theo vần A-B-C, phần thứ hai gồm 58 bài thơ chữ Hán của 36 nhà thơ Việt Nam xếp theo thời gian.
    Tri thức về Hán học của Ngọc Châu  rất hạn chế nên chỉ mong muốn được giới thiệu tới nhiều độc giả mà không dám luận bình gì về các bản dịch. Phần này xin giành cho người đọc có những phẩm bình sau khi đọc tác phẩm thơ của dịch giả Phạm Đình Nhân (mail của bác Nhân: (phdinhnhan@gmail.com ), điện thoai: 04.37221708 – 0987552467
         Do dung lượng tập thơ khá dài nên mỗi lần chỉ giới thiệu từ 1 đến 2 tác giả, Ngọc Châu cũng mạn phép làm theo người xưa là góp thêm một số bản dịch của mình chỉ để cho sự cảm nhận bài thơ nguyên tác được phong phú hơn mà thôi.)
                                             

                                                          (Tiếp phần 1)

 

2. CHƯƠNG KIỆT

 

6. XUÂN BIỆT

Nguyên tác :            

            

            

            

            

            

           

            

            

Phiên âm :           Xuân biệt

Trịch hạ ly chàng chỉ loạn sơn,

Xu trình bất đãi phượng sinh tàn.

Hoa biên mã tước kim hàm khứ,

Lầu thượng nhân thuỳ ngọc trợ khan.

Liễu mạch tuy nhiên phong niểu niểu,

Thông hà do tự tuyết man man.

Ân cần mạc yếm điêu cừu trọng,

Khủng phạm Tam Biên[1] ngũ nguyệt hàn.

Dịch thơ :    

Phạm Đình Nhân dịch 2007

 

Xuân ly biệt

Buông chén lên đường hướng núi cao

Ra đi không có phượng vui chào.

Ngựa hoa tiễn bước bên đường vắng

Ai khóc trên lầu lệ nghẹn ngào?

Rặng liễu gió lùa phơ phất vẫy

Hàng thông tuyết phủ ngạt ngào sao!

Tam Biên lạnh đến tháng Năm đấy

Áo ấm lông cừu nhớ mặc vào!

Ngọc Châu dịch 2013 (tham khảo)

Xuân biệt

 

Chén buông, hướng núi lên đường

Phượng không theo tiễn dặm trường non cao

Ngựa hoa đơn bước lẻ sao

Nghẹn ngào ai khóc lầu cao lệ tràn

Phất phơ liễu rủ gió ngàn

Thông reo tuyết phủ như càng dài xa

Áo lông cừu phủ  xông pha

Tam Biên lạnh đến nửa già tháng Năm!

     [1] Tam Biên : Chỉ 3 xứ biên giới: Tây, Bắc  và Tây bắc, nơi này tháng 5 còn lạnh

      

3. DƯƠNG SỸ NGẠC

 

 

7. ĐĂNG LÂU

Nguyên tác :               

            

            

            

            

Phiên âm :            Đăng lâu

Hoè liễu tiêu sơ nhiễu quận thành,

Dạ tiêm sơn vũ tác giang thanh.

Thu phong nam mạch vô xa mã,

Độc thướng cao lâu cố quốc tình.

Dịch thơ :             

Phạm Đình Nhân dịch 2007

Lên lầu

Hoè liễu quanh thành sao xác sơ,

Đêm nghe mưa núi đổ tràn bờ,

Gió thu dọc tuyến nam xe vắng,

Đơn độc lên lầu nhớ chốn xưa.

Ngọc Châu dịch 2013 (tham khảo)

 Lên lầu

Quanh thành hòe liễu xác xơ

Đêm nghe mưa núi tràn bờ năm canh

Gió thu xe tuyến vắng tanh

Lên lầu cao một bóng mình nhớ quê.

4. ĐỖ MỤC

(803 – 852)

 

 Đỗ Mục (803-852), nhà thơ Đường, tự là Mục Chí, hiệu Phàn Xuyên, người huyện Vạn Niên, Kinh Triệu, Thiểm Tây (Trung Quốc). Đỗ tiến sĩ năm 828 đời Đường Văn Tông. Làm quan từ chức Tiết độ sứ Hoài Nam, Giám sát Ngự sử tại Lạc Dương. Sau bị đổi làmThứ sử Hoàng Châu. Về triều, làm Khảo công lang, Tri chế cáo, rồi làm Trung thư xá nhân.

Ông là tác giả bài A Phòng cung phủ nổi tiếng.

8. XÍCH BÍCH HOÀI CỔ

Nguyên tác :              

            

            

            便

            

Phiên âm :   Xích Bích hoài cổ

Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu,

Tự tương ma tẩy nhận tiền triều.

Đông phong bất dữ Chu lang tiện,

Đồng tước xuân thâm tỏa nhị kiều.

Dịch thơ :

Phạm Đình Nhân dịch 2005

Nhớ chuyện Xích Bích xưa (1)

 

Kích vùi trong cát thép không tiêu,

Mới thấy triều xưa luyện thép nhiều.

Không gió đông nam Chu cũng chịu,

Còn đâu Đồng Tước với Hai Kiều?(2)

Ngọc Châu dịch tham khảo năm 2013

Nhớ chuyện xưa Xích Bích

 

Cát vùi kích vẫn không tiêu

Mới hay xưa luyện thép nhiều lắm thay

Gió đông nam Chu gặp may

Hai Kiều, Đồng Tước không bay sang Tào.

 

 

9. THẤT TỊCH

Nguyên tác :            

            

            

            

            

Phiên âm :          Thất tịch

Ngân chúc thu quang lãnh họa bình,

Khinh la tiểu phiến phác lưu huỳnh.

Thiên giai dạ sắc lương như thủy.

Ngọa khán Khiên Ngưu Chức Nữ tinh.

Dịch thơ :

Phạm Đình Nhân dịch 2005   

 

Đêm thất tịch (1)

1. Đuốc thu lạnh chiếu lên tranh,

Quạt  xua đom đóm đưa nhanh nhẹ nhàng.

Sắc đêm trời nước dịu dàng,

Lặng nhìn Chức Nữ Ngưu lang tỏ tình

 

2. Ánh nến bao chùm lên bức tranh

Quạt xua đom đóm xúm bâu quanh

Nền trời đêm tối như mâm nước

Nằm ngắm  Chức Ngưu đang tỏ tình

Ngọc Châu dịch tham khảo năm 2013

 

 

Đêm ngâu

 

Nến thu soi tỏ bức tranh

Quạt xua đom đóm vờn quanh chập chờn

Gương trời đêm đẹp mê hồn

Ngưu Lang Chức Nữ đang còn say duyên

 

 

 

                                         10. THANH MINH

                               Nguyên tác :                    

                      

            

            

            

Phiên âm :           Thanh minh

Thanh minh thời tiết vũ phân phân,

Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn,

Tá vấn tửu gia hà xứ hữu,

Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn.

Dịch thơ : 

Phạm Đình Nhân dịch  2007

 

Tiết Thanh minh

 

Dầm dề mưa bụi tiết thanh minh,

Buồn thấm đường đi khách lữ hành

Muốn hỏi đâu đây nơi quán rượu

Mục đồng chỉ tận Hạnh Hoa thôn.         

Ngọc Châu dịch tham khảo năm 2013

 

             Thanh Minh

 

Thanh minh mưa bụi dầm dề

Lữ hành khách đã  ủ ê chân chồn

Quán rượu muốn hỏi đâu còn

Mục đồng chỉ Hạnh Hoa thôn xa mù.

 

 

11. LỮ TÚC

Nguyên tác :         宿

        

        

        

        

        

        

        

        

 

Phiên âm :           Lữ túc

Lữ quán vô lương bạn,

Ngưng tình tự tiễu nhiên.

Hàn đăng tư cựu sự,

Đoạn nhạn cảnh sầu miên.

Viễn mông quy xâm hiểu,

Gia thư đáo cách niên.

Thương giang hảo yên nguyệt,

Môn hệ điếu ngư thuyền.

Dịch thơ :  

Phạm Đình Nhân dịch 2006

 

Ở quán trọ

Quán nghèo không có bạn thân,

Tâm tình lắng đọng như gần như xa.

Khêu đèn nhớ lại chuyện xưa,

Ngủ  buồn  ngưng tiếng nhạn  vừa  bay ngang.

Nằm mơ mộng mị tràn lan,

Thư  nhà năm ngoái mới sang một  lần.

Sông xanh trăng khói tuyệt trần,

Thuyền câu ai buộc cửa sân lạnh lùng.   

Ngọc Châu dịch tham khảo năm 2013

 

             Quán trọ

Quán trọ không bạn hiền

Tâm tình lắng tự nhiên

Đèn khêu ôn chuyện cũ

Tiếng nhạn buồn ngang thềm

Tràn lan cơn mộng mị

Thư nhà chưa đến thêm

Sông xanh mờ sương khói

Thuyền câu neo gần hiên

 

5. ĐỖ PHỦ

(712 – 770)

 

Đỗ Phủ , tự là Từ Mỹ, nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng đời Đường. Sinh ở Dao Loan, huyện Củng, tỉnh Hà Nam vào năm Đường Huyền Tông lên ngôi (712). Nổi tiếng thông minh hoạt bát. Gần xuốt cuộc đời ông đi lang bạt nhiều nơi do loạn lạc. Mãi đến năm 757 khi 45 tuổi mới nhận chức quan rồi lại bỏ. Sống trong cảnh bần hàn. Nhưng đi đến đâu cũng có thơ để lại. Mất tại Lôi Dương, thọ 59 tuổi.

12. TUYỆT CÚ 1

Nguyên tác :            

                           

                           

                              

                           

 

Phiên âm :              Tuyệt cú 1

Giang bích điểu du bạch,

Sơn thanh hoa dục nhiên.

Kim xuân khan hựu quá,

Hà nhật phục quy niên.

 

                             Dịch thơ

Phạm Đình Nhân dịch  2004

 

       Tuyệt cú 1

1. Sông xanh chim trắng bay,

Đồi xanh hoa nở thắm.

Ngày xuân sao quá ngắn,

Bao giờ ta về đây?

 

  2. Sông xanh, ngập trắng chim bay lượn,

Đồi núi nghìn trùng nở sắc hoa.

Xuân này lại sắp trôi qua,

Bao giờ mới biết ngày ta trở về?:

                   

3. Chim trắng bay đùa trên nước xanh,

Hoa đua nhau nở khắp đồi tranh.

Ngày xuân sao vội qua nhanh thế,

Biết đến bao giờ về đất lành.

Dịch 2004

Ngọc Châu dịch tham khảo năm 2013

 

 

 

 

 

 

Tuyệt cú 1

 

Sông xanh chim trắng lượn bay

Ngàn hoa thắm đang nở dày non cao

Ngày xuân mới ngắn làm sao

Ôi quê xa, biết khi nào hồi hương?

 

 

 

    

 

   

Tác giả BBT giới thiệu