BÀI THƠ “KHÓC CHỒNG” CỦA NỮ SĨ TƯƠNG PHỐ - MỘT LỜI THAN VÃN, XÓT XA, CAY ĐẮNG
Nữ sĩ Tương Phố tên thật là Đỗ Thị Đàm, quê ở Bối Khê, huyện Khóai Châu, tỉnh Hưng Yên. Bà có khiếu văn thơ từ thời niên thiếu, đến gần tuổi 20, bà đã sáng tác khá nhiều tập thơ văn nặng trĩu tâm hồn lãng mạn tình yêu… Nhưng tiếc thay cho cuộc đời của bà sớm bị góa bụa khi còn tuổi xuân xanh đầy sức sống của thời con gái. Bà thương cho chồng và tủi cho phận mình thể hiện qua bài “KHÓC CHỒNG” như sau:
Ngoảnh lại trời Nam lệ chứa chan
Lửa hương thôi đã lỗi muôn vàn
Thương chàng vỡ lỡ đường danh vọng
Tủi thiếp bơ vơ lỗi đoạn tràng
Chiếc bách dòng sâu e sóng cả
Nửa chăn bụi lấp lữa canh tàn
Từ đây non nước người xa vắng
Chi xiết lòng em nỗi dở dang!...
Tương Phố (Hà Nội năm Canh Thân = 1920)
Bài thơ “Khóc chồng” của bà thật xót xa, xúc động: vừa thương chồng còn dở dang sự nghiệp và tình yêu thương vợ con; vừa tủi cho phận mình góa bụa quá sớm rất cô đơn, đau khổ, ruột gan rối bời… Bà hình dung trước mắt bao nhiêu khó khăn vất vả không biết chiếc thuyền mẹ góa, con mồ côi của bà có vượt qua sóng gió hay không? Rồi chuyện gối chăn tổ ấm gia đình vợ chồng lạnh lẽo, tháng năm bụi phủ, nhện giăng u sầu… Ôi số phận của bà thật đáng thương! Là một người con gái có duyên, có tài đang còn nhiều hy vọng đến tương lai thì gặp được anh chàng cũng tài hoa si tình lãng mạn đã yêu thương nhau kết tóc xe tơ thành vợ chồng. Mặc dù bà đã biết người chồng đã có vợ con ở Huế, nhưng bà nghĩ rằng trai thời ấy chuyện vợ cả vợ hai là thường, nên bà cam tâm làm vợ lẽ với ông Thái Văn Du. Ông Du là em ruột của ông Thái Văn Toản- Thượng thư Bộ Lại nhà Nguyễn (thời vua Bảo Đại). Ông Du ra Hà Nội học trường thuốc Đông Dương rồi gặp dịp làm quen với cô nữ sinh trường Sư phạm và thân thiết yêu thương nhau, thành vợ thành chồng. Sau đó ông Du bị điều sang Pháp phục vụ quân y cho quân đội Pháp trong Thế chiến I chống Đức (1914-1918). Bà Tương Phố mang thai rồi sinh con trai đầu lòng đặt tên con là Thái Văn Châu. Sau vài năm, ông Du bị ốm bệnh nặng phải về Việt Nam chữa bệnh ở Huế rồi mất vào mùa thu năm 1920. Bà Tương Phố được tin chồng mất quá đột ngột mà con lại còn thơ dại, bà không thể về Huế chịu tang chồng được. Bà nghẹn ngào đau đớn khóc suốt ngày đêm trước bàn thơ chồng.
Về sau này, năm 1954, bà cùng với gia đình đứa con trai duy nhất của bà với ông Thái Văn Du là Thái Văn Châu vào sinh sống ở Đà Lạt. Hiện nay, trên đồi Tương Sơn Đà Lạt có khu vực nhà lưu niệm của nữ sĩ Tương Phố-Đỗ Thị Đàm. Bà đã mất năm 1973 tại Đà Lạt. Trên lăng mộ của bà có ghi năm sinh, năm mất (1900-1973).
Ghi chú: Ông Thái Văn Châu-con trai bà nguyên là GS. Trường Đại học Đà Lạt. Bà có 10 người cháu nội con ông Du. Có một người cháu là liệt sĩ cách mạng.
(Nguyễn Hồng Trân –Chi hội thơ Đường tp. Huế giới thiệu)