Đối đối . Vui - vui
Cụ đốc học Lê Quýnh sống vào đầu thế kỷ XX, người làng Phù Quang, huyện Hoằng Hóa là người hay nôm. Chung quanh việc dạy học, cảnh sinh hoạt của cụ, bà con thường kể nhiều câu chuyện vui về cụ.
Cụ có một người học trò thân. Trong chủ định, cụ muốn dạy anh ta cho giỏi để đỗ đạt, thành tài về mặt văn chương. Không ngờ anh ta đi thi bị hỏng. Bực mình, anh ta chuyển sang nghề võ đi thi lại đỗ, rồi được làm quan, về mở tiệc mừng. Cụ Quýnh liền gửi đến đôi câu đối:
Ấy mới hay! Bảo một đàng quàng một nẻo
Ừ cũng được. Phi đằng nọ tắc đằng kia. (1)
Cạnh nhà cụ, lại có chàng trai láng giềng vợ vừa mới mất. Anh ta khóc thương suốt ngày. Đi vắng thì thôi, về đến nhà là anh ta lại thắp hương lên … khóc vợ. Tuy cảm thông với nỗi đau đớn của anh, nhưng rồi ồn ào quá không chịu được, cụ bèn cho mời anh ta sang hỏi han. Anh kể lể nào vợ chồng mới cưới nhau chưa được bao lâu, tình nghĩa đang nồng thì vợ mất, bỏ của nhà cửa, nghề nghiệp để anh ta phải chịu cô đơn lẻ loi. Cụ liền viết cho anh ta đôi câu đối thờ vợ:
Đôi ta như lửa mới nhen, như trăng mới mọc, như đèn mới…
Đi đâu bỏ chiếu ai nằm, bỏ chăn ai đắp, bỏ tằm ai...
Câu đối rất thiết tha, dễ hiểu vì lấy từ câu ca dao:
Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc như đèn mới khêu
Và
Đi đâu để chiếu ai nằm
Để chăn ai đắp, để tằm ai nuôi
Anh chàng thấy hợp cảnh thì mừng lắm, cảm động mang về. Cụ đốc níu tay anh lại:
- Này, anh chưa biết hết câu đối ấy đâu, lại đây đã. Mọi câu, mọi chữ thì rõ rồi. Còn chữ “tằm” anh có biết là cái gì không? Nhà anh không nuôi sao lại có tằm?
Anh ngớ ra. Cụ ghé sát vào tai anh nói nhỏ “tằm” là…! Có phải bây giờ nó như con tằm nằm co không nào? Anh ta bật cười và từ đấy về nhà, anh ta chỉ ngâm câu đối thôi chứ không khóc nữa.
(1) Câu đối này, một số tài liệu nói là của Yên Đổ. Câu đối theo lời ca dao tiếp đó, cũng thấy ghép cho một vài tác giả khác.