Bài thơ " Nguyên Tiêu" của nhà thơ Hồ Chí Minh
01-02-2012
 

8 . nguyen tieu .F.jpg
Hướng về ngày thơ Việt Nam (15 tháng giêng AL) hàng năm, xin có đôi lời cảm nhận về bài thơ Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng), một thi phẩm của Hồ Chí Minh ra đời cách đây 64 năm.

Vào một đêm rằm tháng giêng năm Mậu Tý 1948, trên đường trở về sau khi dự Hội nghị BCH Trung ương Đảng mở rộng ở chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh cảm hứng sáng tác bài thơ Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng).

Phiên âm bài thơ:

 Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên

 Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên

 Yên ba thâm xứ đàm quân sự

 Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền

Nhà thơ Xuân Thuỷ kể rằng, sau khi đọc xong bài thơ, Bác nói: Trong bài thơ Bác có nhắc đến tên chú Xuân Thuỷ, vậy chú Xuân Thuỷ hãy dịch đi. Và nhà thơ Xuân Thuỷ đã dịch như sau: “Rằm xuân lồng lộng trăng soi/ Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân/ Giữa dòng bàn bạc việc quân/ Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”.

Hai câu đầu bài thơ mở ra trước mắt người đọc một đêm trăng xuân. Đó là đêm Nguyên tiêu (rằm tháng giêng), nguyệt chính viên (trăng vừa tròn). Không gian khắp nơi bàng bạc sắc xuân, hương xuân và tình xuân. Tứ thơ đẹp bay vút từ mặt nước của dòng sông xuân lên tận trời xuân để toả ra trong một không gian đầy trăng. Trăng và xuân hoà quyện với nhau dường như không còn phân biệt được nữa. Đến câu thứ ba, người đọc tưởng chừng như con thuyền lạc vào nơi sâu thẳm của dòng sông đầy khói sóng (yên ba thâm xứ) thì ý thơ đột ngột hạ xuống ba chữ “đàm quân sự” (bàn việc quân). Thì ra con thuyền chở Bác cùng các đồng chí của ta là để bàn việc kháng chiến. Sau dấu lặng của ba chữ này, hơi thơ bất ngờ chuyển hướng và ngưng đọng lại ở cuối bài thơ bằng một hình ảnh lộng lẫy đầy ánh trăng: nguyệt mãn thuyền (trăng đầy thuyền). Một con thuyền đầy trăng. Hình ảnh thơ không mới nhưng đấy lại là một sáng tạo mang tính thẩm mĩ.

Cảm nhận đầu tiên khi đọc xong bài thơ thất ngôn tứ tuyệt là phong vị của Đường thi. Bài thơ có đầy đủ những yếu tố của bài thơ cổ: một con thuyền, một vầng trăng, lại có sông xuân, nước xuân, trời xuân và có cả khói sóng. Điệu thơ thanh nhẹ, man mác; không gian bao la, yên tĩnh; thiên nhiên hữu tình, ấm áp…, chỉ khác là thi nhân không có rượu và hoa để thưởng trăng, không đàm đạo thi phú văn chương mà chỉ “đàm quân sự”. Đây không phải là lần đầu tiên cái cốt cách của “nhà hiền triết phương Đông” toả sáng trong tâm hồn của Bác. Trong lần “Đi thuyền trên sông Đáy” Bác cũng cảm nhận đượcSao đưa thuyền chạy thuyền chờ trăng theo”một cách hữu tình. Bài thơ làm ta liên tưởng đến câu thơ của Vương Bột đời Đường “Lạc hà dữ cô vụ tề phi/ Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc” (Cánh cò bay với ráng pha/ Sông thu cùng với trời xa một màu) hay câu thơ của Trương Kế “Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự/ Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền” (Thuyền ai đậu bến Cô Tô/Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn). Có thể nói, sự gặp gỡ giữa Hồ Chí Minh với thơ Đường đã tạo nên một vẻ đẹp riêng trong thơ Bác không dễ lẫn vào đâu được.

Cảm thức bài thơ, tôi nghĩ đến một hồn thơ tinh tế nhạy cảm trước thiên nhiên và hơn thế là một trí tuệ mẫn tiệp Hồ Chí Minh. Điều này được thể hiện qua chiều sâu của cảm xúc và tư duy lôgic nội tại của bài thơ, nhất là ở câu mở đầu và câu kết thúc. Ta thử hình dung con thuyền chở đầy trăng trong đêm rằm tháng giêng trở về vào lúc nửa đêm. Chỉ cần cái khoảnh khắc thời gian (nguyên tiêu, dạ bán) chệch đi, hoặc giả con thuyền chao nghiêng dù chỉ một chút thôi cũng đủ cho con thuyền trở nên lạc lõng, không còn đầy trăng nữa. Bởi chỉ có thể là trăng vừa tròn (nguyệt chính viên) vào đúng dạ bán (nửa đêm) của rằm tháng giêng thì trăng mới mãn thuyền (đầy thuyền). Sự kết hợp chữ viên ở câu thứ nhất và chữ mãn ở câu cuối đã tạo nên vầng trăng viên mãn (tròn đầy) của đêm rằm tháng giêng. Đó cũng là sự viên mãn của một hồn thơ đang thăng hoa giữa đất trời quê hương. Và, dường như con thuyền chở đầy ánh trăng kia cũng là con thuyền kháng chiến đang chở đầy những chiến công và niềm vui thắng trận. Phải chăng đó là ánh sáng của tinh thần hiện đại trong thơ Bác.

Càng đọc thơ Người, ta càng cảm được vẻ đẹp hài hoà giữa cổ điển và hiện đại, giữa thi sĩ và chiến sĩ, giữa truyền thống và cách mạng và hơn hết là vẻ đẹp trí tuệ trong chiều sâu cảm xúc của thơ Hồ Chí Minh. Xin mượn những câu thơ của Hoàng Trung Thông để thay cho lời kết

Đọc thơ Bác

“Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp

Ánh đèn toả rạng mái đầu xanh,

Vần thơ của Bác, vần thơ thép

Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”.

                                                 Phan Mạnh Thông   

 

Tác giả BBT sưu tâm & giới thiệu