THÔNG BÁO

Choa nam moi.jpg    Năm cũ đã qua, năm mới - 2018 lại tới, những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. theo thời gian lùi dần về quá khứ

Đảng ta , nhân dân ta đang tập trung quyết liệt chống tham nhũng, và cải cách hành chính nhằm làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn    

     Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất tích cực ....

 

TÌM HIỂU VỀ THƠ ĐƯỜNG ĐẤT VIỆT- của Thi huynh Nguyễn Hồng Trân - Huế
09-01-2012
IMG - co thoF.jpg Xin tiếp tục giới thiệu bài viết của Thi huynh Nguyễn Hông Trân về thơ Đường

image001. 2 F.jpg

 Thơ Ðường Luật phổ biến trên thi đàn Việt Nam xưa, xuất xứ từ đời Ðường (618-907) bên Tàu, có luật lệ nhất định, thường gọi là Thơ Đường Luật.  
         Thơ Đường luật có 4 thể: Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt (4câu, mỗi câu 5 từ), Ngũ Ngôn Bát Cú (8 câu, mỗi câu 5 từ), Thất Ngôn Tứ Tuyệt (4 câu, mỗi câu 7 từ), Thất Ngôn Bát Cú (8 câu, mỗi câu 7 từ).

Bài này chúng tôi chỉ đề cập đến thể loại Thất ngôn bát cú:

         Thơ Đường luật thể loại “Thất Ngôn Bát Cú” có luật lệ  rất nghiêm ngặt nên rất khó làm và làm cho hay lại càng khó. Khi muốn làm cho đúng niêm luật thì bị gò bó hồn thơ; khi muốn cho hồn thơ tự nhiên rung cảm chân thực với lòng mình thì lại bị phạm luật… Tuy vậy, ngày xưa, loại thơ này lại được các cụ già hay chữ , có học thức thường ưa chuộng. Các cụ thường dùng để bày tỏ tình cảm, ý chí, ngâm vịnh, trào phúng, xướng họa, chúc mừng, khai bút đầu Xuân.v.v... Ở nước Việt ta, thể loại thơ này lúc đầu người ta làm bằng chữ Hán và đến đời Trần, Hàn Thuyên là người đầu tiên làm bằng chữ Nôm, nên Ðường luật còn gọi là Hàn Luật. Từ đó thể thơ “Thất Ngôn Bát Cú” trở thành độc tôn trên thi đàn. Ngay trong các kỳ thi ngày xưa cũng bắt thí sinh làm một bài.

Sau đây xin trình bày khái quát về bố cục và luật lệ căn bản của thể thơ này:
           I. BỐ CỤC:
Một bài thơ Thất Ngôn Bát Cú có 4 phần:
      1- Mạo: là mào đầu (vào bài) còn gọi là Ðề, gồm:
- Phá đề (câu 1) nghĩa là mở ra, giới thiệu tựa đề.
- Thừa đề (câu 2) nghĩa là chuyển xuống.
      2- Thực hay Trạng: gồm câu 3 + 4: giải thích, khai triển tựa đề.
      3- Luận: gồm câu 5+6: bàn luận ý nghĩa của bài.
      4- Kết: gồm câu 7+8: tóm tắt ý nghĩa, bày tỏ tình cảm, thái độ.
         *Một điều đáng chú ý trong phần bố cục này cũng chỉ là tương đối không thể rành rọt được 100%. Tuy vậy trong phần mạo, phần thực và phần kết thì cần thể hiện rõ nét được chừng nào hay chừng ấy. Trong thực tế sáng tác thơ, rất nhiều thi hữu quên hẳn điều này, chỉ chú ý niêm luật mà thôi. Vì vậy giá trị của một bài thơ Đường luật bị giảm đi đảng kể.
                II. LUẬT LỆ CĂN BẢN:
     1- Vần:
là bộ phận chủ yếu của âm tiết trong tiếng Việt là âm tiết trừ đi phụ âm đầu, nếu có.
     Vần có vần bằng, vần trắc, độc vận, ép vận. Trong thất ngôn bát cú chỉ gieo 1 vần, gọi là độc vận và rơi vào 5 chữ cuối của 5 câu: 1, 2, 4, 6, 8 đều dùng vần bằng, rất hiếm khi dùng vần trắc,
5 chữ này tránh trùng nhau, phải hiệp vận cho đúng , nếu gieo sai gọi là lạc vận, gieo vần không sát gọi là gượng ép vần.


Một điều đáng lưu ý rằng: về việc gieo vần ở các từ cuối của câu 1-2-4-6-8 trong bài thơ có vần bằng( tức là không dấu và dấu huyền) khi đọc lên ta nghe giống nhau nhưng âm bậc thăng- trầm có khác nhau. Âm thanh thăng-trầm cứ xen kẽ nhau ở các từ cuối của 5 câu đã nêu trên. Nghĩa là từ cuối vần bằng của câu trước không dấu thì từ cuối của câu sau phải dấu huyền (Không-huyền-không-huyền- không). Nếu các vần đi liền nhau toàn không dấu thì không thuận tai, mất hay.

Một điều quan trọng nữa là nếu các từ tạo vần mà có nguyên âm ở cuối thì bảo đảm gieo vần đúng với nguyên âm đó. Như a, ă, â; hoặc e, ê; hoặc o, ơ, ô; hoặc u, ư; hoặc y, i. Nếu có 2 nguyên âm đi liền nhau, khi đọc lên gần giống nguyên âm cuối thì cũng coi là được, như: oa – như a; oe- như  e; uê – như ê. Nhưng chú ý với 2 nguyên âm như: eo thì không thể như nguyên âm o được vì khi đọc lên khác hẳn nhau hoàn toàn.

Trong trường hợp nếu các từ tạo vần có phụ âm đi sau nguyên âm thì phải bảo đảm để cả nguyên âm và phụ âm,  ví dụ như: an, ân, on, ôn, en ên, in, un, ưn hoặc từ có 2 nguyên âm liền nhau và tiếp sau có 1 phụ âm hoặc 2 phụ âm thì phải bảo đảm sao cho vần khi đọc lên đừng bị sai lệch là được, còn đọc lên thấy khác vần điệu thì thôi không dùng được. Ví dụ như: uen, oan, yên, uông, ương, iêng…

Chú ý:
    Vần: có cước vận (vần ở cuối câu), và yêu vận (vần ở lưng câu).
    Vần điệu: Ðiệu là âm điệu lên xuống đều đặn đễ nghe trong từng chữ, từng câu,   như điệu thất ngôn mỗi câu 7 chữ.
    Nhịp điệu: Nhịp là cách ngắt đoạn đều đặn trong câu thơ. Nhịp điệu là cái dáng đi khi mau khi chậm trong thơ.
    Tiết tấu: tiết là đốt, là đoạn ngắn, tấu là đánh nhạc, là âm thanh trong từng đoạn câu thơ phải thuận tai cảm nhận.
     Thi nhạc: (gồm vần, điệu, nhịp, tiết tấu): Nhà thơ dùng âm thanh (tượng thanh), dùng sự thay đổi của của âm, độ cao thấp của thanh, sự đều đặn của vần điệu, nhịp điệu, sự nhịp nhàng của tiết tấu... làm cho bài thơ đọc lên nghe êm tai như sắc thái hòa âm bản nhạc gọi là thi nhạc.
     2. Ðối: là phép đặt 2 cặp câu thơ đối nhau trong bài thất ngôn bát cú (bài có 8 câu, mỗi câu 7 chữ): câu 3, câu 4- đối nhau; câu 5, câu 6- đối nhau.

     Đối ở đây có đối thanh, đối chữ và lời, đối ý. Trong đó đối thanh là phải tương phản (tức là trắc thì đối bằng); đối chữ và lời thì phải tương đồng theo thể loại ngôn từ, nghĩa là danh từ thì dùng danh từ, động từ thì phải dùng động từ, tính từ thì phải dùng tính từ cho phù hợp với đối tượng cần đối ý… Điều này nhiều người không thông thạo ngôn ngữ thường gặp sai lầm. Còn phần đối ý là có thể dùng ý tương phản hoặc tương đồng đều được, nhưng cố tìm cho được ý tương phản thì hay hơn. Ví dụ: Áo trắng – quần đen (đối- tương phản); Ngóng đợi – Chờ mong (đối- tương đồng).
Ðối ý:
là phần quan trọng trong cặp câu đối. Nó thể hiện ý nghĩa tâm trạng, tình cảm, hồn thơ của tác giả gửi gắm vào bài thơ, như yên tâm – xúc động; âu sầu- phấn khởi, mơ màng-tỉnh táo,v.v…

Trong thể thơ này, 2 câu thực phải đối nhau, 2 câu luận phải đối nhau.
3. Luật: tức thanh luật là quy tắc xếp đặt thanh bằng (B) thanh trắc (T) cho mỗi chữ trong một câu thơ theo lệ:
"Nhất tam ngũ bất luận":  tức là từ thứ 1, thứ 3, thứ 5, bất luận là không ràng buộc về thanh trắc(T) hay bằng (B) như quy định.
"Nhị tứ lục phân minh": tức là từ thứ 2, từ thứ 4, từ thứ 6 phải tuân theo luật về thanh trắc hay bằng, phân minh là phải rõ ràng bắt buộc phải tuân theo thanh:
"nhị bằng tứ trắc lục bằng", hay ngược lại: "nhị trắc tứ bằng lục trắc".
     - Sau đây là luật BT với loại bài thất ngôn bát cú
luật bằng
= vần bằng:
     Câu 1: B
BTTTB
B
     Câu 2: T
TBBTT
B
     Câu 3: T
TBBBT
T
     Câu 4: B
BTTTB
B
     Câu 5: B
BTTBB
T
     Câu 6: T
TBBTT
B
     Câu 7: T
TBBBT
T
     Câu 8: B
BTTTBB

- Sau đây là luật BT với loại bài thất ngôn bát cú luật trắc = vần bằng:
     Câu 1: T
TBBTT
B
     Câu 2: B
BTTTB
B
     Câu 3: B
BTTBB
T
     Câu 4: T
TBBTT
B
     Câu 5: T
TBBBT
T
     Câu 6: B
BTTTB
B
     Câu 7: B
BTTBB
T
     Câu 8: T
TBBTTB


       Âm là tiếng động phát ra khi đọc một nguyên âm. Thanh là độ cao thấp của âm. Mỗi âm trong tiếng Việt có 6 bực độ quy định bởi 6 dấu: 2 thanh BẰNG gồm trầm (dấu huyền) và phù (không dấu), bốn thanh TRẮC gồm thượng (dấu sắc, dấu ngã), và khứ hay nhập (dấu hỏi, dấu nặng).
       Trong một câu thơ, tất cả những chữ cùng một thanh nên thay đổi bậc độ.
Trong bài thơ thất ngôn bát cú, chữ thứ thứ 5 trong các câu 3, 5,7, đáng là phải thanh bằng mà đổi ra trắc gọi là “khổ độc” (nghĩa là khó đọc); Còn chữ thứ 5 trong các câu 1,2,4,6,8,  đáng lẽ phải đặt chữ là thanh trắc mà lại đặt thanh bằng thì gọi là “thất luật”.    Mặc dầu như trên đã nói: “nhất tam ngũ bất luận” nhưng ta cũng nên lưu ý từ thứ 5 đừng để phải “khổ độc” hoặc “thất luật”.
      4. Niêm: nghĩa là dán cho dính lại. Phép niêm trong thơ là quy tắc sắp xếp các câu thơ trong bài dính lại với nhau về âm điệu, hay nói một cách khác NIÊM là sự liên lạc về âm luật của 2 câu thơ với nhau. Trong bài Ðường Luật, hai câu 1 và 8, 2 và 3, 4 và 5, 6 và 7 niêm với nhau.
Hai từ thứ 2 và thứ 6 trong từng câu thơ là cùng một thanh trắc hoặc bằng.

Nếu không theo đúng như thế gọi là thất niêm.

Trong bài thơ, câu đầu có từ thứ 2-6 là thanh trắc thì các câu tiếp theo sẽ là:bằng-bằng, trắc- trắc, bằng bằng, trắc:

Ví dụ 1: bài thơ QUA ĐÈO NGANG của bà huyện Thanh Quan:

Bước tới Đèo Ngang bóng xế

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

Khom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Dừng chân đứng lại nhìn non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta.    

Trong bài thơ, câu đầu có từ thứ 2-6 là thanh bằng thì các câu tiếp theo sẽ là:  trắc- trắc, bằng bằng, trắc-trắc, bằng:

Ví dụ 2: Bài thơ THƯƠNG VỢ của Trần Tế Xương:

Quang năm buôn bán ở mom(ven) sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò nơi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng, mười mưa chẳng quản công

Cha mẹ thói đời ăn bạc

chồng hờ hững cũng như không!        

        III. ĐÔI ĐIỀU NHẬN XÉT:                                                                      

       Cũng chính vì luật lệ quy tắc quá nghiêm ngặt, gò bó, khó khăn của thơ Đường luật như thế mà giới Nho sĩ Việt Nam đã bị kìm hãm trong suốt một thời gian quá dài, chẳng để lại cho hậu thế được bao nhiêu bài thơ hay so với thể thơ mới. Thời tiền chiến xảy ra một trận bút chiến vang dội cả ba miền giữa thơ mới và thơ cũ, cuối cùng thơ cũ đại bại nhường thi đàn lại cho thơ mới thống trị đến ngày nay. Ngay nhà thơ Quách Tấn chuyên làm Thất ngôn bát cú với tác phẩm "Mùa Cổ Ðiển", về sau cũng từ giã nhảy qua thể Thất ngôn tứ tuyệt với thi tập "Ðọng Bóng Chiều".

             TÓM LẠI:                                                                                                   

       Ngày nay, thể Thất ngôn Bát cú được nhiều người làm sống lại bằng những hình thức cách tân noi theo bước chân tiền phong của các nhà thơ tiền bối có bản lĩnh sáng tạo như Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương... mạnh dạn từ bỏ dần phong cách quý phái, đài các, cung đình: ưa xài điển tích, thích dùng Hán tự, vọng ngoại, vong bản, bắt chước, sáo mòn... để trở về với tình tự cội nguồn dân tộc Việt Nam đầy sinh động và sáng tạo của mình. Và như vậy sẽ làm cho người đọc thơ được cảm nhận hồn thơ một cách thoải mái dễ dàng thưởng thức để thấm sâu vào tình cảm lòng mình. Cái hay của thơ Đường luật là hình thức ngắn gọn, nội dung rõ ràng, nhịp nhàng nhạc điệu và người ta tìm thấy những cảm xúc tâm hồn trước cảnh thiên nhiên đất nước, con người trong tình cảm buồn vui, yêu thương, hờn giận, mỉa mai, trào lộng,v.v… một cách sâu sắc, mềm mại, thấm thía, chứ không phải những câu khuôn sáo, khô khan, vô cảm.

Tuy rằng phong trào thơ Đường luật ở nước ta hiện nay chưa được phát triển rộng rãi lắm, nhưng một số Câu lạc bộ thơ Đường ở các miền cũng đã khơi dậy phong trào làm thơ Đường theo ngôn từ thông dụng và hiện đại đã đem lại niềm vui thú cho không ít người yêu thơ được thưởng thức và sáng tạo.

Phải nói rằng thơ Đường ở đất Việt ngày nay có hình thức và nội dung khá phong phú, tuy chưa được thâm thúy sâu sắc như thơ Đường ngày xưa, nhưng nói cho cùng thì cái gì cũng có giá trị một thời của nó cả. Chúng ta phải biết nâng niu, trân trọng những giá trị văn hóa của nó để duy trì và biết cách phát triển không ngừng cái hay, cái đẹp trong dòng thơ Đường đất Việt.
                                                         ===00===                                                       

Tác giả Nguyễn Hồng Trân - Huế