Thùy vịnh ngâm của Thi bá Phạm Vũ Thực- Hà Nội
22-12-2011
Bìa Thuy Vinh .F.jpg      Vừa qua tại TT VH Hà Nội CLB thơ Đường Hà Nội tổ chức  giới thiệu thi phẩm song ngữ " Thùy Vịnh ngâm "  của thi bá Phạm Vũ Thực xin được  giới  thiệu

Đây là bài viết giới thiệu của Ông Nguyễn Đức Thu UV Ban chấp hành Hội UNESCO VN , Chủ nhiệm CLB thơ Đường Hà Nội

“Thuỳ vịnh ngâm”

Một hồn thơ đa cảm

 

 

 

           Trước hết chung ta hãy tìm hiểu xuất xứ ba chữ “Thùy vịnh ngâm”

   tên của tập thơ. Số là ...

Tôi và ông Phạm Vũ Thực mới biết nhau trong vòng một năm nay. Để nâng cao chất lượng mối sơ giao này, ông có tặng tôi tập thơ “Gia Hương”. Gia Hương là tên tập thơ và lại là tên ngôi nhà “Gia Hương” có gần 200 năm tuổi do tiền nhân để lại cho anh em ông, vừa mới được phục dựng ở làng Đôn Thư, (Một làng khoa bảng trong thời thi cử cũ thuộc Thanh Oai, Hà Nội)

Tập thơ Gia Hương, có số lượng bài khiêm tốn, trong đó có mấy bài thơ chữ Hán.

Khi tôi đọc tập Gia Hương, tôi nhận thấy thơ ông, phần chữ Hán hay hơn phần chữ Việt. Do đó tôi khích lệ ông sáng tác thơ bằng chữ Hán.

Mấy ngày sau trên điện thoại ông Thực đáp lời tôi bằng một bài thơ:

Vị hữu đăng thư bạn thử thân

Tân cần trú dạ phóng thời châm

Trác ma ngôn ngữ tu từ luyện

Kim nhật cổ thi thuỳ vịnh ngâm

Bài thơ được đặt tên là “Thuỳ Vịnh Ngâm” (ai là người ngâm vịnh). Bài thơ có đại ý: đêm ngày cặm cụi làm bạn với sách đèn. Nhưng liệu có ai đọc, có ai ngâm vịnh thể thơ cổ này không.

Tôi đã hiểu ý ông. Tôi động viên ông: Tuy chữ Hán ngày nay ở Việt Nam là ít người sử  dụng, nhưng trong ngôn ngữ thông dụng hàng ngày của chúng ta, thì có tới hơn 50% là từ  và ngữ Hán Việt. Cho nên, nếu ai yêu thơ thì họ đều có thể cảm nhận được thơ chữ Hán, hoặc là cảm nhận trực tiếp, hoặc là cảm nhận qua phần dịch nghĩa, qua phần dịch thơ.

Thế là ông Thực đã bắt tay vào cuộc.

Đọc “Thuỳ vịnh ngâm” chúng ta biết tác giả là một người có ý chí rất “câu tiễn” rất biết chịu đựng gian khổ để đi lên.

ở thời đi học, tuổi trẻ mà ăn mặc bốn mùa chỉ có nhất bộ, thì ai mà chẳng tủi thân, nhưng ở đây, cái ý chí của tác giả vẫn thắng. Xin đọc bài “Tích thời bần sinh chi bạch sam” (Chiếc áo sơ mi trắng của một học sinh nghèo ngày trước), để thấy cái chí lập thân, tấn thân của tác giả.

Cái ý chí ấy đáng là tấm gương cho con, cho cháu, cho tất cả thế hệ trẻ    ngày nay.

Ông Phạm Vũ Thực còn là một người nặng tình, nặng nghĩa với quê hương Đôn Thư yêu dấu, với ngôi nhà “Gia Hương” đầy ắp kỉ niệm thân thương.

Đọc bài: “Đáo Hà Nội” (Ra Hà Nội) có câu “Tòng phụ phố kinh tuế thập tam” thì biết ông Thực đã hơn 60 năm xa quê. Vào những năm tuổi thất thập này, ông không phút nguôi ngoai nỗi nhớ nhà xưa, quê cũ.

Ngày 19/1/2011 ông có một dự định như thể hiện trong bài “Qui hề” (Về thôi) bỏ Hà Nội về Đôn Thư thôi.

Phòng ốc viên đình mĩ thả hi

“Gia Hương” bích ngọc tự lưu ly

Đôn Thư mạc tưởng sầu tri kỷ

Bằng hữu doanh môn náo nhiệt quy

(Sân vườn nhà cửa xinh tươi   /  “Gia Hương” ngọc quý ngời ngời biết bao / Đôn Thư đâu thiếu bạn bầu   /  Biết tình nhau, lại yêu nhau, tìm về)

Nhưng cái dự định này lại bị bao nhiêu cản trở, nào là tật bệnh bản thân, nào là trọng bệnh của vợ, nào là tập quán lối sống nơi nọ, nơi kia ... cho nên, về, ... ở ... cứ dùng dằng ....

Trong những ngày chưa hồi cư được, thì hình ảnh quê xưa cứ mãi trỗi lên, như trong bài “Đôn Thư liên đàm” (Đầm sen Đôn Thư), như “Đôn Thư tịch thị” (Chợ chiều Đôn Thư).

Trong những bài thơ thuộc chủ đề này, tôi thích nhất là bài “Giá cô thanh” (Tiếng chim cu gáy)

Tuỳ thân bộ luyện giá cô cô

Thanh hưởng khinh khinh thiểu ngã tư (...)

(Theo bước dạo chiều tiếng cúc cu / Cúc cu đồng vọng gợi suy tư (...))

Tiếng chim cu gáy thật vi diệu, nó có phép mầu làm cho chân thân của tác giả thì ở trên bán đảo Linh Đàm, nhưng tâm hồn của tác giả lại bay về Đôn Thư quê cũ: Bao nhiêu cảnh, tình, âm thanh cứ nồng nàn diễn ra như vây quanh ông, cứ bám riết với ông; để rồi:

 (...) Tảo nhặt qui hồi thân cố lý

Gia Hương ẩn ước khả văn thư

(Mong về thư thái miền quê ấy / Đầm ấm nồng nàn khúc nhạc xưa)

Đọc bài thơ “Tiêu dao” có câu “Hồi hưu tuế nguyệt vô trần sự” , ta cứ nghĩ tác giả là người vô cảm với trần sự, với thế sự, nhưng ngược lại, ông lại là người rất có tâm với việc đời.

Đêm nằm nghe đài, biết được tin “Việt Nam, đứng hàng thứ 4 trên thế giới về số người hút thuốc lá”, ông thở dài trong 4 câu thơ:

Việt Nam yên ẩn hữu danh vinh

Đệ tứ hoàn cầu thậm hãi kinh

Nhược sử kỹ khoa thử kỷ lục

Quốc dân nhiệt náo bái thần linh.

(Người hút thuốc lá Việt Nam / Khiếp thay lại đứng vào hàng thứ tư / Kỷ lục khoa, kỹ mà như ... /  Toàn dân nô nức bái chư thánh thần)

Cũng nghe đài, ông được biết động đất ở Nhật Bản, ông vô cùng cảm thông và kính nể tinh thần chịu đựng của nhân dân Nhật qua bài “Đại hoạ địa chấn”

Nghĩ xa, ông lại nghĩ gần. Ông miên man lại nghĩ đến thế cục của nước mình. Ông đã có bài “Nhược sử” (Nếu như), được tạm dịch như sau: Nếu Việt Nam thời tiết thuận hoà  / Láng giềng thân thiện, chẳng sai ngoa  / Võ văn chuyển hết làm công nghệ  / Hậu duệ lo chi chuyện ác tà.

Nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển. Tuy nhiên, ở đâu, đó, làm sao đã hết được sự đói nghèo.

Vâng, sự no đủ ở đời nó cũng giống như cái chăn Nam Cao.

Một lần, ông đi chợ, chợ gần trường. Ông thấy một cháu bé bán rau ở độ tuổi tiểu học. Ông động lòng trắc ẩn trong một bài thơ “Hài đồng mại thái” (Cháu bé bán rau).

Hài đồng mại thái động tâm tư

Thời khắc học đường chính độc thư

Lai vãng, chuyển thân công tận mãi

Vọng kỳ tiểu tử đãi thời cơ

(Vào giờ học tập ở nhà trường / Thấy trẻ bán rau luống cảm thương / Vòng lại, vòng đi mua hết cả  / Mong sao cháu đến lớp như thường).

Ôi ! ông già Thực ơi ! đây chỉ là sự mơ ước. Ông và tôi, và nhiều người nữa, làm sao lại có một cái chăn rộng tới mức: thiên hạ ai co cũng được mà không để cho ai bị hở.

Ngày xưa, nhà thơ Đỗ Phủ (Đỗ Thiếu Lăng) có bài thơ Mao ốc (Nhà cỏ bị bão cuốn bay). Phạm Vũ Thực đã đọc bài đó, và ông đã có thơ “Độc Đỗ Phủ thi” (Đọc thơ Đỗ Phủ).

ở hai câu đầu, ông Thực cảm động cùng nhà thơ đời Đường:

Đỗ Phủ điêu linh mao ốc tàn

Bão hoài đại hạ vạn thiên gian

(Bão giật vèo ngôi nhà lá nhỏ / Thiếu Lăng mong có vạn ngàn gian)

Mong được như thế để che chở, đỡ đần cho những ai cơ nhỡ.

Ông Phạm Vũ Thực không dám ước như Đỗ Thiếu Lăng. Trong bài thơ của ông, ông chỉ liên hệ với thực trạng: ở thành thị vẫn còn nhà ổ hẹp, ở nông thôn miền núi vẫn còn cảnh lán lều toang. Ông mong sao các nhà có của hãy đem tâm gấp.

Tư tưởng của bài thơ thật thấm đấm tình đời.

Đọc thơ Phạm Vũ Thực chúng ta cứ tưởng, ông là người thâm trầm, lạnh lẽo, nhưng ngược lại ông lại là người hóm hỉnh, trào lộng. Ông trào lộng hóm hỉnh không phải chỉ là để cười,.

Bài “Vẫn” (Nụ hôn), 2 câu đầu, tác giả kể: Ông goá vợ và bà goá chồng ngồi chuyện phiếm về tệ nạn hàng giả ngày nay. Ngồi lâu thân mật, lúc chia tay, ông toan ôm hôn bà. Bà vội gạt ra mà rằng: “Nương khuyến nhạn nha vật thoái nhan”. /Răng giả đấy, nhỡ rụng ra thì sao.

Bài “Tân ma, cựu ma” (Ma mới, ma cũ), hai câu đầu, tác giả kể: con ma cũ lâu không có ai cúng, đói xanh mặt, vớ được con ma mới, chắc mẩm là ma mới sẽ được cúng nhiều, cứ bíu lấy để xin ăn. Đến hai câu sau:

Cơ khát tiên ma ngữ thảm thống

Viết kim lễ vật giả vi vương

(Đau lòng ma mới kêu thảm thiết / Lễ vật ngày nay nhựa khó mần !)

Đó! răng giả, đồ cúng giả; nhan sắc giả, lòng thành kính giả, thật là cười ra nước mắt. Âu đó cũng là mặt trái của cơ chế thị trường.

Tác giả Phạm Vũ Thực, không phải chỉ có thâm thuý, ưu uất, trào lộng, ông cũng là người rất tình. Xin đọc bài “Trướng võng” (Bâng khuâng)

 

Sổ đáo Hương Sơn thử thiếu thời

Niên hoa vô lự nhãn tinh khôi

Hồi gia trướng võng hồng nhan ngộ

ảo ảnh kỳ nhân kỷ mộng hồi.

Hai câu đầu, tác giả cho biết, thời trẻ cũng có đôi lần đi Chùa Hương. Thủa đó ngây thơ lắm. Nhưng có một lần: Hội về nhung nhớ dung nhan ấy  / Bóng ảnh trong mơ gặp mấy lần.

Thật là đa tình ! chỉ có một lần gặp thôi mà đã có mấy lần mơ ! Lời thơ dịch tưởng như thế là đã hay nhưng còn thua xa nguyên tác về nhạc điệu, về tình tiết.

Tôi muốn nói một chút về nghệ thuật tập thơ “Thuỳ vịnh ngâm”.

Trong 101 bài thơ, ta thấy khá nhiều bài có phong vị thơ đời Đường. Đó là cách   “Dĩ cảnh ngụ tình”. Chẳng hạn như bài “Bất giác tỉnh” (sực tỉnh).

Dạ tỉnh hoa khai hương mãn đình

Bạch đầu cô toạ đãi bình minh

Thử thời tựu thị tam canh quá

Thành thị hùng kê khiếp bất minh !

(Hoa nở, hương đưa bừng giấc lạnh / Sân khuya, thân lẻ, bạc đầu già / Bình minh ngồi đợi trong đêm quạnh / Thành thị, ô hay! vắng tiếng gà)

Cả bài thơ ta thấy tác giả chỉ là tả cảnh, không thấy có một từ nào đả động đến tình quê. ấy thế mà chỉ mấy tiếng “hùng kê”, “bất minh” - Gà trống, không có tiếng gáy - Cái sự vắng lặng ấy nó đã búng vào sợi tơ lòng cho những ai đó ở xa quê.

Tác giả Phạm Vũ Thực còn rất khéo chọn cách thúc kết một bài thơ.

Ví dụ như bài: “Thời thế”.

Tiền nhật thời gian hoàn thị xuân

Kim thiên lạt lạt thái dương hân

Đô thành hoảng loạn do viêm nhiệt

Hoá vật đồng hành giá bất nhân

(Mấy ngày trước khí xuân mát mẻ / Mà nay hừng hực lửa hè nung / Thị dân lo sợ hãi hùng / Nhiệt trời, nhiệt giá thông đồng rước nhau)

Ta thấy ba câu đầu của bài thơ chỉ là một bản thông báo về tình hình thời tiết. ấy thế mà đến  câu kết, đã làm cả 4 câu bừng lên khí vị của thơ, đã tỏ rõ tính hiện thực phê phán trong thơ.

Cách nay chừng 180 năm thi hào Nguyễn Du có hai câu trong bài “Độc Tiểu Thanh ký” như sau:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

(Ba trăm năm nữa nào đâu biết   /  Thiên hạ ai người khóc Tố Như)

Còn như Phạm Vũ Thực, xin ông đừng lo “Thuỳ vịnh ngâm” không có ai là người ngâm vịnh. Tôi tin rằng, chắc chắn sẽ có người đọc, có người có cảm xúc cùng ông.

                                                                                                                                                              (Nguyễn Văn Thụ)

 

 


 

Tác giả BBT giới thiệu