Nguồn gốc bài thơ : Không đề nhưng thấm đậm khí tiết trung trinh của người phụ nữ - bà Phi Yến
07-11-2011
110625105517.jpg Xin trân trọng giới thiệu nguồn gốc bài thơ truyền miệng của bà Phi Yến - Vợ của chúa Nguyễn Ánh

“ Đốt nén hương thề tạ chúa công

Can vua nên nỗi  tội thông đồng

Ngai vàng một thuở ngồi chưa vững

Bia đá ngàn năm vết vẫn còn

Máu chảy ruột mềm đau phận thiếp

Nồi da xáo thịt thỏa lòng ông

Sông sầu, núi thảm hoa mờ lệ

Đã khóc cho con lại khóc chồng”

Bà tức là bà Phi Yến không rõ vợ thứ mấy của chúa Nguyễn Ánh (Nguyễn Phúc Ánh) tục gọi là bà Lê Thị Răm.
       Cậu  Hoàng tử Hội An con của đức bà Phi Yến và Nguyễn Ánh tục gọi là Hoàng tử Cải

   Tương truyền rằng vào khoảng cuối thu năm 1783 Nguyễn Ánh bôn đào ra Côn Đảo để tránh sự theo dỏi của nhà Tây sơn. Vỡ thất bại liên tục nên ông có ý định đưa Hoàng tử tháp tùng cùng Bá Đa Lộc sang Pháp làm con tin để cầu viện. Bà Phi Yến rất không bằng lòng về điểm này từ đó nói lên những lời khuyên can của mình rằng:

        “Việc đánh nhau với Tây Sơn ta có thể coi như việc trong nhà, chúa công nên dùng nghĩa binh trong nước thì hơn. Bệ hạ nhờ sức mạnh của người ngoài về giải quyết vấn đề nội bộ dù chúng ta có thắng Tây Sơn đi nữa cũng chẳng vẻ vang gì, thiếp e còn lắm điều rắc rối về sau..”. Chỉ mấy lời khuyên can như vậy ấy mà Nguyễn Ánh nổi trận lôi đình, nghi bà Phi Yến có ẩn ý thông đồng  với Tây Sơn. Trước cảnh búa rìu sấm sét của một vị chúa độc tài, bà Phi yến vẫn giữ lập trường kiên định không cho Hoàng tử Hội An đi làm tôi con cho ngoại bang, và muôn năm sau lịch sử sẽ bia truyền cái tội cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về dày mả tổ. nếu không có các quan cận thận can ngăn ắt hẳn bà Phi Yến không thoát khỏi tội chém đầu. Tuy nhiên, Nguyễn Ánh vẫn còn ác ý làm khổ người vợ trẻ bằng cách sai giam cầm bà vào một hang đá trên một hòn đảo hoang vắng. Địa danh Hòn Bà  đời từ đó. Trước hang đá có nhiều tảng đá lớn chắn ngang nên bà không thể ra ngoài được, trong hang chỉ có ít bánh nếp và một chum nước lã vừa đủ sống chừng nữa tháng trở lại. Tại đó chỉ có con vượn bạch, một con vật hết sức khôn ngoan và trung thành với bà nuôi nó từ khi còn nhỏ luôn luôn ở bên cạnh hầu hạ bà. Vừa nhốt xong bà Phi Yến nghe tin có quân Tây Sơn sắp tràn ra đảo. Nguyễn Ánh bèn cùng đám tùy tùng xuống mấy chiếc thuyền chạy về đảo Phú Quốc. Theo với đám người chạy loạn có con hắc hổ của hoàng tử Cải Nó rất mến hoàng tử, đi đâu nó cũng đi theo nửa bước cũng chẳng chịu rời. Khi thuyền sắp nhổ neo, Hoàng tử thấy sao không có mẹ mình bèn hỏi thăm người nọ người kia. Có người trung nghĩa tiết lộ mẹ của Hoàng tử đang bị giam cầm. Khi đó cậu mới khóc rống lên kêu gào thảm thiết để yêu cầu với cha là cho mẹ cùng theo, hoặc là cùng sống chết với mẹ. Nguyễn Ánh không bằng lòng bảo với các quan: Thằng nhóc con này rất có thể một lòng với người mẹ phản trắc của nó. Ngay bây giờ nếu ta không loại trừ trước, biết đâu nó chẵng là kẻ loạn thần tặc tử sau này? Nói đoạn chính tay ông vừa xách đầu đứa con vô tội ném xuống biển vừa nói: “ Đấy mi muốn thế ta cho phép mi ở lại để được trọn niềm hiếu thảo với mẹ mi ! Khi thấy Hoàng tử rơi xuống biển con hắc hổ vội vàng phóng theo. Nhưng con hắc hổ có thể vào bờ cạn dễ dàng, còn thảm thương thay cho Hoàng tử Hội An mới có 5 tuổi nên phải chết chìm dưới dòng nước xanh. Hắc hổ sau khi lội được vào bờ không thấy Hoàng tử cùng lên, nó cứ đứng nhìn  ra biển cho đến khi thủy triều rút cạn nhìn thấy thi hài Hoàng tử nằm yên trên bờ san hô, Nó bèn đem thi hài của Hoàng tử lên, móc lỗ chôn tại giữa khu rừng gần bờ Đầm Trầu. Dân làng Cỏ Ống thấy con vật mà ăn ở có tình có nghĩa như vậy nên ai cũng động lòng, xúm nhau vun đất, đắp đá cho nấm mộ được cao lên. Rồi lập miếu phía trước mộ để thờ Hoàng tử. Miếu ấy mệnh danh là Miếu Cậu.

    Nói về con hắc hổ sau khi chôn cất Hoàng tử xong, tuy chỉ là con vật không hơn không kém song nó rất có nghĩa với Hoàng tử  Hội An. Đêm lên rừng rậm non cao kiếm ăn, ngày về nằm bên mộ Hoàng Tử kêu gào thảm thiết. Một đêm nọ không rõ tình cờ hay vì một lý do huyền bí nào đó Hắc hổ gặp lại Vượn bạch. Tuy không biết nói nhưng vượn bạch đã tả dấu thế nào mà nó hướng dẩn con Hắc hổ qua tận bên kia hòn đảo (tức Hòn Bà ngày nay) để gặp được đức bà Phi Yến đang bị giam cầm trong động đá. Sau mấy chập mừng mừng , tủi tủi, hắc hổ và vượn bạch ra dấu hiệu như bảo bà cùng đi theo. Bà gượng sức leo lên lưng cọp cho nó cõng đi. Hơn nữa ngày vượt suối trèo đèo vất vả lắm mới qua tới được ven rừng Cỏ Ống. Khi tới trước mộ Hoàng tử hai con vật dừng chân lại, dân làng Cỏ Ông hay tin kéo đến rất đông và kể cho bà biết đây là nấm mộ của Hoàng tử. Đau xót trước tình cảnh ấy dân làng Cỏ Ống xúm nhau làm một ngôi nhà khỏ khang trang gần mộ Hoàng tử để bà sớm hôm chăm sóc ngôi mộ đứa con vô phúc của mình. Bởi bà Phi Yến có tên tục là Răm và Hoàng tử Hội An có tên riêng là Cải  nên người đương thời bấy giờ mới đặt ra câu hát:

                                            Gió đưa cây Cải về trời

Rau Răm ở lại chịu đời đắng cay"

Trong thời gian này bà Phi Yến có sáng tác nên bài thơ và truyền miệng cho đến ngày hôm nay :

“ Đốt nén hương thề tạ chúa công

Can vua nên nỗi  tội thông đồng

Ngai vàng một thuở ngồi chưa vững

Bia đá ngàn năm vết vẫn còn

Máu chảy ruột mềm đau phận thiếp

Nồi da xáo thịt thỏa lòng ông

Sông sầu, núi thảm hoa mờ lệ

Đã khóc cho con lại khóc chồng”

   Một hôm làng An Hải có cuộc đàn chay khá lớn. muốn cho cuộc lễ phước thiện ấy thêm phần long trọng, ban hội tề  làng An Hải cử một bô lão làm đại diện và bốn dân phu qua tận làng Cỏ Ống để thỉnh đức bà Phi Yến, khi đến nơi người ta dọn sẳn cho bà một gian phòng đặc biệt để bà có chỗ nghỉ ngơi. Thuở ấy (1785) Đức bà Phi Yến mới 25 tuổi xuân, nhan sắc đang thời tươi thắm, lộng lẫy như một bà tiên nên tên đồ tể của làng An Hải là Biện Thi không ngăn nổi lòng tà dục và hắn đó đi đến nước liều. Đêm đó hắn giả say rồi lộn chui vào phòng giữa lúc đức bà đang ngon giấc, với sự quyết tâm hái mận bẻ đào. Khi hắn vừa mới chạm đến cánh tay thì Đức bà giật mình thức dậy và tri hô lớn, tức thì tên Biện Thi bị dân làng túm cổ đem đóng gông chờ sự quyết định của số phận.

   Theo luân lý xưa không đợi khi có bị cưỡng bức mới gọi là thất tiết, chỉ cần nắm tay, động đến tà áo coi như xâm phạm tiết hạnh rồi. Đức bà Phi Yến bấy lâu nay tuy đã dứt tình, song vẫn giữ vẹn mình trong sạch, bởi thế Đức bà đã tự mình chặt đứt cánh tay dơ dáy ấy và nhờ một bà lão mang đi chôn. Nhưng vẫn chưa thấy hết tủi nhục trong lòng, ngay đêm hôm đó thừa lúc mọi người không để ý, bà đã liều mình tự tử để vẹn toàn danh tiết. Khi tin chẳng lành này đến tai, toàn thể dân làng Cỏ Ống phẩn uất chẳng khác nào lửa đổ thêm dầu với đủ thứ gậy gộc, giáo mác kéo sang làng An Hải buộc dân làng An Hải phải làm thế nào cho Đức bà sống lại, bằng không họ sẽ tiêu diệt cả làng An  Hải. Do sự dàn xếp khôn ngoan của quan Hải trấn, dân làng Cỏ ống dần dần bớt cơn thịnh nộ, khi đó ông đưa Làng An Hải phải làm heo tạ lỗi và nộp tên Biện Thi cho làng Cỏ Ống được toàn quyền ra giải pháp dung hòa như sau:

        Làng An Hải phải làm heo tạ lỗi và nộp tên Biện Thi cho làng Cỏ Ống được toàn quyền định đoạt. Số phận đã an bài cho Đức Bà nằm xuống tại làng An Hải nên cũng thuận theo ý trời để thi hài Đức Bà lại cho dân làng An Hải lo việc tống táng và lập miếu thờ, hàng năm cúng bái có sự tham gia của giới chức và dân làng Cỏ Ống. Sau cuộc an táng thi hài của Đức Bà, một cuộc hành quyết diễn ra tại làng Cỏ Ống, tên Biện Thi phải đền tội bằng cách xử tùng xẻo

            Sau đó người ta truyền rằng Đức bà Phi YếnHoàng tử Hội An đó hiển thánh, thường hiện về mách bảo cho dân làng biết điềm lành hay chuyện dữ sắp xảy ra. Đức bà Phi Yến đã nêu cao tấm gương ái quốc, sáng suốt nhận định được quốc vận hậu lai, trước cảnh búa rìu sấm sét của vị chúa độc đoán. Bà vẫn một niềm cương quyết chống trả không chịu đồng lõa với những hành động có tội với lịch sử. Đến như Hoàng tử Hội An tuy mới 5 tuổi đã tỏ ra là đứa con chí hiếu thà chịu chết với mẹ hiền còn hơn là tham sống với người cha thô bạo.

     Người xưa đã có 4 câu thơ đề tặng:

“Lũng đất chôn sâu niềm uất hận

Lưng trời đeo mãi vết tang thương

Thương người cương trực liều thân thể

Trách kẻ tà dâm dạ khó lường”.

Từ đó đến nay bà con, nhân dân Côn Đảo hàng năm đều tổ chức lễ giỗ Bà vào ngày 18/10 âm lịch.      

                                                                       


Tác giả BBTsưu tâm & giới thiệu