Đến với bài thơ " Về Tha La" của Nguyệt Lăng .
28-10-2011
Núi Bà Đen.jpg Xin giới thiệu đôi điều cảm nhận về bài thơ " Về Tha La "

                                Về Tha La

                         (Tặng Liêu tiên Sinh)                      

                                                        Nguyệt Lãng

               

                  Trên đỉnh Bà Đen nắng mới hừng

                  Chim chuyền còn ngủ dưới triền bưng

                  Đồng xa đang ủ rơm làm nấm

                  Xóm dưới còn mài mác chẻ đưng

                  Mấy mẹ lom khom phơi đậu đỗ

                  Một bà lọm khọm bán chè thưng

                  Nghe nàng(Lý) Bạch Huệ nằm ca cổ

                  Bỗng thấy Tha La đẹp quá chừng ..

Lời bình:

Đọc xong bài thơ “ Về Tha La” của tác giả Nguyệt Lãng, trong tôi như biến thành hai người có tâm trạng khác nhau. Người thứ nhất nông cạn nghĩ rằng bài thơ nầy không liên kết chặc chẽ về hình ảnh và ý thơ. Không liên kết vì tác giả vừa đó nói đên đỉnh núi Bà Đen hùng vỹ và linh thiêng thì liền tụt xuống triền bưng để nói về con chim bé bỏng. Thế rồi tác giả đang nói về ủ rơm làm nấm, mài mác chẻ đưng, phơi đậu đỗ, bán chè thưng lại thình lình nhảy qua giọng ca của nàng Bạch Huệ. Người thứ hai sâu sắc lại thấy bài thơ “Về Tha La” của tác giả Nguyệt Lãng là một bức tranh vô cùng linh động, phát họa theo trường phái ước lệ một cách tài tình từ cái cao lớn như đỉnh núi Bà Đen đến những sinh hoạt nhỏ nhất như con chim ngủ dưới triền bưng, mấy bà mẹ lom khom, một cụ già lọm khọm, và tiếng hát của nàng Bạch Huệ không những là tiếng nhạc đệm cho những bức tranh từ từ hiển thị mà còn đưa tâm hồn con người  đến với vùng quê đã trở thành danh lam  trong thơ nhạc : Tha La.

Hai câu mở của bài thơ “ Về Tha La” như mặt kính của một chiếc ống nhòm mở rộng ra rồi đóng nhỏ lại:

                          Trên đỉnh Bà Đen nắng mới hồng

                           Chim chuyền còn ngủ dưới triền bưng

 Mặt kính mở ra để mắt thấy cả bầu trời bao la rộng lớn trên đỉnh núi Bà Đen và triền bưng nằm theo chân núi, thu lại để thấy cái nhỏ nhất là con chim chuyền còn say giấc ngủ. Chỉ với hai chi tiết núi và chim mà nhà thơ Nguyệt Lãng đã cho người đọc ý niệm được toàn bức tranh của một vùng rộng lớn. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng đã tả cả mùa xuân chỉ bằng hai chi tiết mà thôi:

                            Cỏ non xanh tận chân trời

                             Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

  Bước qua hai câu thực của bài thơ, tác giả tả một cách tổng quát những sinh hoạt của một miền quê gần với núi:

                              Đồng xa đang ủ rơm làm nấm

                               Xóm dưới còn mài mác chẻ đưng

Cái hay thứ nhất của hai câu thơ nầy là nó không có vẽ gì là một vế đối trong thơ Đường luật, nhưng nó lại là một vế đối nhau vừa chỉnh lại vừa hay, hay ở chỗ không gian cũng đối nhau, cảnh vật cũng đối nhau và việc làm cũng đối nhau chan chát. Cái hay thứ hai của hai câu thơ nầy là tác giả đã lồng hình ảnh đương thấy và hình ảnh đã thấy vào trong một bức tranh hiện tại, làm cho bức tranh có tỉnh có động thật là linh hoạt. Đỉnh núi Bà Đen và chim ngủ triền bưng là cái đang thấy, còn đồng xa đang ủ rơm và xóm dưới còn mài mác chắc chắn đó là những sinh hoạt của nhân dân mà tác giả đã thấy từ lâu, chứ thật ra mắt trần làm sao thấy một lần bao sự việc trong một vùng rộng lớn.

  Đến hai câu luận của bài thơ tác giả đã để cho xuất hiện thêm hình ảnh mấy nhân vật mộc mạc khiến cho bức tranh lại càng thêm linh động:

                              Mấy mẹ lom khom phơi đậu đỗ

                               Một bà lọm khọm bán chè thưng

Đây là hai hình ảnh tác giả thấy trước mắt và gần nhất, hai hình ảnh rất tầm thường nhưng gợi hình nổi bật nhất . Hình ảnh thì tầm thường nhưng vẽ đẹp thì không tầm thường, vì đó là hai hình ảnh mà bất cứ nhà nhiếp ảnh nào cũng muốn thu vào để trưng bày trong phòng triển lãm của mình.  Với bốn câu thơ trong hai vế đối, tác giả “Về Tha La” đã diển tả hết và trọn tất cả sinh hoạt đặc thù của một vùng quê  yên lành và đẹp.

  Ở cuối bài thơ tác giả đã mở ra một sự bất ngờ cho người đọc, giọng ca vọng cổ của một nghệ sĩ thân quen đã được đưa vào bài thơ để ông nhờ đó mà kết luận rằng Tha La rất đẹp . Ai cúng biết giọng ca vọng cổ của Nghệ sĩ Lý bạch Huệ là một giọng ca truyền cảm đi vào lòng người. Tác giả đưa giọng ca ấy vào câu kết của bài thơ làm cho bài thơ đã có hình ảnh quen thuộc lại có âm thanh thân thương thì mấy ai không thấy con tim mình rung động:

                             Nghe nàng(Lý)Bạch Huệ nằm ca cổ

                              Bổng thấy tha la đẹp quá chừng.

“Về Tha La” là một bài thơ Việt Nam hoàn thiện. Đọc  “Về Tha La”  không thấy gì âm hưởng nặng nề của một bài Đường thi, vậy mà lạ thay nó là một bài Đường thi đúng niêm, đúng luật, đúng vận, câu đối chỉnh và tiết tấu, bố cục rất hài hòa.

 “ Về Tha La” là một bài Đường thi gợi hình, gợi ảnh, gợi âm hiển thị trước mắt một miền thanh bình của quê hương yêu dấu ./. 

                                                                          Châu Thạch - Đà nẵng    

 

Tác giả Châu Thạch - Đà Nẵng