Bàn về hai bài thơ xướng , họa :Tôn phu nhân quy Thục .
11-10-2011
Mỹ nhân.JPG 

Lấy tích từ truyện Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa.

TÔN PHU NHÂN QUI THỤC* 

Bài xướng:


Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
 
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
 
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc
 
Về Hán trau tria mảnh má hồng
 
Son phấn thà cam dày gió bụi
 
Đá vàng chi để thẹn non sông
 
Ai về nhắn với Châu Công Cẩn
 
Thà mất lòng anh được bụng chồng
 
                    
 
Tôn Thọ Tường
Bài họa:


Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng
 
Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông
 
Ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng
 
Duyên về đất Thục đượm màu hồng
 
Hai vai tơ tóc bền trời đất
 
Một gánh cương thường nặng núi sông
 
Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
 
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng
 
                            
 
Phan Văn Trị

*Ghi chú: 
Lấy tích từ truyện Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa.

 

         Tôn Phu Nhân là em ruột Tôn Quyền, vua nước Đông Ngô đời Tam Quốc. Vì việc tranh giành đất đai, Tôn Quyền theo kế của quân sư Châu Du tự là Công Cẩn giả bộ cầu thân với Lưu Bị vua nước Hán (đất Thục). Tôn Quyền mời Lưu Bị qua Giang Đông nói là gả em gái để kết tình lân bang giao hảo, định dùng phục binh giết chết trong tiệc rượu. Âm mưu sắp đặt bí mật không tiết lộ bên ngoài. Khổng Minh là quân sư của Lưu Bị biết rõ âm mưu sâu độc của Tôn Quyền liền bày kế cho Lưu Bị khi sang đất Ngô tuyên bố ầm lên là mình được Tôn Quyền mời sang gả em gái. Việc nầy thấu tai đến bà Ngô Quốc Thái, mẹ của Tôn Quyền. Biết đó là mưu mô xảo quyệt, Bà cho gọi Tôn Quyền vào mắng cho một trận, rằng tại sao lại dụng kế tiểu nhân để tiếng nhơ muôn đời. Nhận thấy Lưu Bị là người đạo đức nhân hòa, bà buộc Tôn Quyền phải tôn trọng lời hứa và nhất quyết gả con gái cho Lưu Bị. Tôn Phu Nhân không rõ mưu kế của anh, vâng lời mẹ kết duyên với Lưu Bị. 
     Thất bại mưu kế hại Lưu Bị, Tôn Quyền định dùng quyền tước và phú quý mua chuộc Lưu Bị để cầm chân ông ở Đông Ngô. Nhưng theo kế sắp sẵn của Khổng Minh và lòng cương quyết theo chồng cho trọn đạo tòng phu của Tôn Phu Nhân, nên cả hai vợ chồng Lưu Bị trở về đất Hán được bình yên.

 

                  Phần bình thơ


Nhìn lại cuộc bút chiến giữa Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường qua bài thơ Tôn Phu Nhân Qui Thục
 . Một hiện tượng hiếm hoi trong lịch sử văn học Việt Nam đó là cuộc bút chiến, xướng họa thơ giữa hai nhà Nho  Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường trong thời điểm đất nước đang bị thực dân Pháp xâm lược. Cuộc bút chiến nầy đã góp phần làm phong phú nền văn học nước nhà, có thể gọi một hiện tượng "vô tiền khoáng hậu". Việc họa thơ văn từ trước tới nay vẫn thường xảy ra trên văn đàn, nhưng họa xướng theo đúng nghĩa của nó, xem ra chỉ có Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường. Thiết nghĩ cũng nên đưa ra đây một thí dụ, để chúng ta cùng tham khảo. 
        1.
 
Tôn Thọ Tường 
Tôn Thọ Tường quê làng Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Cháu một vị công thần nhà Nguyễn. Ông sinh năm 1825, mất 1877 tại huyện Bình Dương. Thuở nhỏ học ở Huế, nổi tiếng văn hay chữ tốt, trượt thi Hương vào Gia Định lập "Tao Đàn Bạch Mai Thi Xã" ở chùa Cây Mai. Năm 1855, ông được tập ấm làm quan.
 
       Sau khi thành Vĩnh Long thất thủ (1862), Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông, ông ra giúp chính phủ Pháp, làm tri phủ Tân Bình, trấn nhậm Saigon. Tuy tận tình với chức vụ, nhưng không một cử chỉ, một lời nói cùng một hành động nào tùy tiện cả. Bởi thế, các quan đầu phòng người Pháp hết lòng kính nể, sau được thăng Đốc Phủ Sứ. Ông theo viên lãnh sự Pháp ra miền bắc quan sát miền thượng du và bị bệnh chết.
 
         Ra làm quan hơn 15 năm, Tôn Thọ Tường vẫn nghèo như trước.
 
      Ngoài một quan lại, ông còn là nhà thơ có tài được thể hiện qua một số bài thơ có hình tượng nghệ thuật như Đĩ già đi tu, Tứ Thứ qui Tào, Vịnh Cây mai, Tôn Phu Nhân Qui Thục ...
     Có lẽ trong thâm tâm, ông tha thiết mong mỏi cho những công trình chánh đáng mà âm thầm của mình sẽ giúp ích đôi chút cho quê hương đất nước và đồng bào chủng tộc.
 
     Đọc lại tất cả thơ văn của ông, chúng ta nhận thấy một điều ông luôn bày tỏ niềm u uất vì những tiếng khích bác của những người đồng hội. Ông gửi tâm sự vào mười bài Tự Thán, Tôn Phu Nhân Qui Thục, Từ Thứ Qui Tào…
 
       Trong bài "Tôn Phu Nhân Quy Thục" ông đã mượn tấm lòng băn khoăn, đau khổ lưu luyến giữa tình và hiếu của người đàn bà quý phái nước Ngô, đau lòng ra đi theo chồng cho trọn đạo tòng phu, qua đó để biện hộ cho lập trường "tiến thoái lưỡng nan" của mình khi ra hợp tác với Pháp. Tâm trạng đó đã được phô diễn rõ rệt trong những chữ "bịn rịn, trau tria…" Vì lúc bấy giờ nhóm nho sĩ công kích Tôn Thọ Tường là theo Pháp…      Vì vậy cho nên ông luôn phải cố gắng vạch rõ thế nào là trung thành hợp lý. Theo ông thì chính sách bảo thủ của triều đình vua Tự Đức và tầng lớp nho sĩ đương thời đã đưa dân tộc vào con đường mất nước. Ngày xưa vì Tôn Quyền quá tin lời Châu Công Cẩn mà Tôn Phu Nhân phải đau khổ về Thục. Thì ngày nay triều đình nhà Nguyễn cũng đã làm mất Lục tỉnh (Nam phần) khiến ông phải "dứt áo theo chồng". Ông ra đi không phải vì lợi danh mà đeo lấy một nhiệm vụ chính trị, "quyết tâm cứu nước".
 
     Bài thơ nầy Tôn Thọ Tường đã mượn tâm sự của người con gái đất Giang Đông đi lấy chồng ở đất Thục, để phân trần việc ông ra hợp tác với Pháp:
 
       
 
Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng 
Mấy chữ "cật ngựa thanh gươm" trong câu thơ trên, tác giả làm cho chúng ta hình dung lại cảnh Tôn Phu Nhân cầm gươm, lên ngựa lìa bỏ đất Ngô để về Kinh Châu với Lưu Bị.  Những chữ nầy cũng nhắc lại việc Tôn Phu Nhân đứng ra ngăn cản quân Ngô, phá tan mưu kế của Chu Du để cứu chồng. 
      
 
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông 
Hành động như thế, Tôn Phu Nhân làm theo lẽ phải, đúng với đạo lý tam tòng của Nho giáo. Danh tiết của người con gái đất Giang Đông nhờ đó được sáng chói muôn đời.
 
      
 
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc 
Ra đi theo chồng là để tròn bổn phận làm vợ trong một hoàn cảnh rất éo le, bảo sao Tôn Phu Nhân không nhớ đến quê hương, lìa mẹ già và người anh đáng kính để theo chồng về đất Thục. Tôn Phu Nhân không dằn được nỗi nhớ nhung, luyến tiếc.
 
      
 
Về Hán trau tria mảnh mà hồng 
Trong cảnh não lòng ấy, nhưng Tôn Phu Nhân vẫn phải lo tròn bổn phận của người "sửa túi nâng khăn" dù biết rằng đức ông chồng của mình là người thù của anh, của quê hương mình.
      
 
Son phấn thà cam dày gió bụi 
       Đá vàng cho để thẹn non sông
 
  Đã trao thân gửi phận cho Lưu Bị rồi thì phải "bến nước mười hai" trong nhờ đục chịu, theo chồng về đất Thục dù nhan sắc có tàn phai theo năm tháng, Tôn Phu Nhân không thể nào lỗi đạo làm vợ được.
 
      
 
Ai về nhắn với Châu Công Cẩn 
       Thà mất lòng anh đặng bụng chồng .
Tôn Phu nhân lại nhắn với kẻ tạo ra cuộc tình duyên bất ngờ ấy là Châu Công Cẩn rằng: "Thà mất lòng anh, chớ không thể phụ nghĩa chồng". Lời lẽ nầy tuy có vẻ sống sượng, nhưng đây là lời nói với Châu Du nên không đáng trách.
 
       Tại sao Tôn Thọ Tường có thái độ cương quyết như vậy ? Trong chuyến đi cùng sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp điều đình về việc ba tỉnh miền đông Nam phần (là Biên Hòa, Gia Định, Định Tường), ông thấy triều đình nhà Nguyễn chỉ lo bảo vệ mồ mả của bà Từ Dũ mà không lo gì cho dân chúng đang rên siết trong khói lửa của giặc Pháp. Hơn nữa ông cũng thấy sức mạnh quân sự hiện đại của Pháp. Và có ý khuyến khích phát triển văn minh theo kiểu Tây phương (như quan điểm của ông Nguyễn Trường Tộ).
 
      Dùng điển tích Tôn Phu Nhân để thanh minh việc làm của mình và để giới sĩ phu đương thời hiểu rõ tâm trạng mình, Tôn Thọ Tường đã vô tình đưa ra một đề tài trái hẳn với chủ đích của ông. Dù ông cố mượn lớp "phấn son" của người con gái đất Giang Đông "ngàn thu rạng tiết" để bào chữa cho việc theo Pháp của ông cũng vẫn không được mọi người tán thành. Vì một lẽ rất giản dị và dễ hiểu: Tôn Phu Nhân không thể là ông Đốc Phủ Sứ Tôn Thọ Tường, dù cả hai cùng một họ.
 
     Đã là kẻ sĩ, Tôn Thọ Tường tất phải hiểu rõ nhiệm vụ của bậc sĩ phu trong cơn quốc biến. Trong khi toàn dân đang nỗ lực chống xâm lăng thì họ Tôn lại ra hợp tác với thực dân Pháp. Muốn phân trần biện bạch với nhóm sĩ phu hiểu rõ hoàn cảnh trớ trêu đã xui mình ra hợp tác với kẻ thù dân tộc thì phải nhắn nhủ cái gì khác hơn, chớ sao lại quá liều lĩnh cho rằng "thà mất lòng anh đặng bụng chồng.
 
     2.
 
Phan Văn Trị 
    Phan Văn Trị sinh năm 1830 tại làng Hưng Thạnh, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Thạnh Phú Đông, quận Giồng Trôm, tỉnh Kiến Hoà. Ông thi đậu cử nhân khoa Kỷ Dậu, năm Tự Đức thứ hai (1849) tại Trường thi Gia Định, người ta thường gọi ông là Cử Trị. Cha tên là Phan Văn Tấn, làm quan khâm sai Chưởng tiền dinh Đô thống chế, đã bị triều đình nhà Nguyễn phạt chín đời không được làm quan. Vì thế khi đỗ đạt, Cử Trị không ra làm quan mà lui về sống nhàn tản ở quê hương, mở trường dạy học. Trong thời gian nầy ông kết bạn tâm giao với Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa. Nhân thấy Tôn Thọ Tường không còn giữ tiết tháo của một nhà Nho chân chính, theo ra hợp tác với Pháp, Phan văn Trị dùng thơ văn đả kích thóa mạ họ Tôn. Lúc bài "Tôn Phu Nhân Qui Thục" vừa ra đời, ông đã thấy ngay nhược điểm của Tôn Thọ Tường và lấy ngay đề tài, thể thơ mà họa lại nguyên vận bài thơ, hạ họ Tôn bằng ngón đòn thích đáng. Trước hết họ Phan nhận định: Tôn Phu Nhân là phận gái tất phải theo trọn đạo tam tòng. Mà đã theo chồng thì luân lý Nho giáo không cho phép người đàn bà nói tới nhiệm vụ chính trị, mà phải sống theo khuôn phép người làm vợ, phải e dè lúc ra đi.
 
     Họa lại nguyên vận bài "Tôn Phu Nhân Qui Thục" của Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị châm biếm và mỉa mai hành động ra hợp tác với Pháp của họ Tôn. Đứng về phương diện đạo lý Phan Văn Trị tán thành việc làm của người con gái đất Giang Đông, theo chồng để vẹn đạo tòng phu, tròn danh tiết…
 
      Phan văn Trị đã họa:
 
      
                 
Tôn Phu Nhân Qui Thục 
                      Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng
 
                      Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông
 
                      Ngút toả đồi Ngô ùn sắc trắng
 
                       Duyên về đất Thục đượm màu hồng
 
                       Hai vai tơ tóc bền trời đất
 
                       Một gánh cương thường nặng núi sông
 
                       Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
 
                       Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng
 
                                                      
Phan Văn Trị 
Phan Văn Trị có dụng ý muốn cho Tôn Thọ Tường biết là Phu Nhân họ Tôn cũng như bao nhiêu người con gái khác "xuất giá tòng phu" thì phải "cài trâm sửa áo" chớ không thể "cật ngựa thanh gươm". Cử Trị đã ngầm bảo với họ Tôn rằng đã theo về với Pháp, thì nên "chỉnh tề khăn áo" chớ có oai vệ nỗi gì mà "cưỡi ngựa đeo gươm". 
      
 
Mặt ngả trời chiều biệt cõi đông 
Phan Văn Trị cho ta thấy Tôn Phu Nhân từ giã quê hương vào một buổi chiều tà, bị bao trùm một màu ảm đạm thê lương. Dùng những chữ "mặt ngả trời chiều", tác giả muốn nói đến cảnh đau thương của dân tộc đang đắm chìm trong khói lửa chiến tranh. Cử Trị muốn cho họ Tôn nhớ rằng người con gái của đất Giang Đông đã lìa quê trong một hoàn cảnh đau buồn, chớ không phải được "rạng tiết gái" cũng như họ Tôn đã theo Pháp trong khi nước non suy tàn, như vậy sao lại gọi là rạng rỡ.
 
      
 
Ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng 
       Duyên về đất Thục đượm màu hồng
 
Hình ảnh những đám mây trắng vào một buổi chiều thu nắng nhạt gợi lên trong lòng người ly hương mối sầu viễn xứ. Lìa
quê trong cảnh buồn bã như thế Tôn Phu Nhân chẳng bao giờ tưởng nhớ tới mẹ già và anh trai. Tác giả muốn ám chỉ việc họ Tôn theo Pháp trong lúc đất nước điêu tàn, nhân dân lầm than trước họa xâm lăng để hưởng sự vui sướng cho thân mình. 
      
 
Hai vai tơ tóc ngang trời đất 
       Một gánh cương thường nặng núi sông
 
Họ Phan nói thẳng với họ Tôn rằng: "Tôn Phu Nhân đã vẹn hai vai tơ tóc" và trọn đạo thờ chồng. Còn ông, ông theo về với Pháp có giữ được "gánh cương thường" không ? Nếu không, ông đã bất trung với đất nuớc, bất nghĩa đối với đồng bào chủng tộc, vậy còn khoe khoang đạo nghĩa làm gì nữa ? Ông là người bất chính, và khẳng định với Tôn Thọ Tường:
 
      
 
Anh hỡi! Tôn Quyền anh có biết 
       Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng
 
    Khen Tôn Phu Nhân là người đàn bà, biết giữ tròn đạo nghĩa bao nhiêu thì họ Phan lại chê trách Tôn Thọ Tường bấy nhiêu. Tôn Thọ Tường là người đàn ông thì làm thế nào giống như trường hợp Tôn Phu Nhân được. Gái tiết hạnh phải làm tròn bổn phận người vợ hiền, còn trai ngay phải trọn đạo làm tôi đối với chúa. Trong lúc non sông nghiêng ngửa, Tôn Thọ Tường ra hợp tác với kẻ thù cướp nước thì sao lại gọi là "trai ngay" (tôi trung) được.
 
     Sau khi phá giải lợi dụng đề tài của Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị còn lớn tiếng bênh vực lập trường của nhóm nho sĩ yêu nước và quan điểm bút chiến của mình.
 
      3. Nhận xét tác dụng
 
Mục tiêu của Tôn Thọ Tường là giải bày tâm sự, của Phan Văn Trị là đả kích cá nhân. Nhưng nếu nhìn xa hơn ta có thể thấy ngay đó là tiếng nói của hai lớp người trong một giới nho sĩ: một đàng theo tiếng gọi của Tây phương, của nền văn minh cơ khí đang lần mò tìm chỗ trống ở Á châu, một đàng là tiếng nói của thành trì cổ kính, muốn giữ đúng quan điểm Nho gia, chứ không chịu lìa bỏ vai trò lãnh đạo của mình. Ảnh hưởng của cuộc đấu tranh bằng thi văn nầy được phổ biến sâu đậm trong nhân gian khiến cho vai trò uy tín của nhà Nho phải một phen lung lạc.
 
     Vì là một cuộc bút chiến, trong văn thơ của  Phan Văn Trị, và Tôn Thọ Tường chúng ta thấy không còn những vẻ phù phiếm, vốn rất phổ biến trong thơ văn thời bấy giờ, lời văn đi sát thực tế hơn với mục đích phục vụ nhân sinh, thúc đẩy nền văn học sử phát triển.
 
    Những vần thơ thời thế của Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường đã ghi lại những dấu vết của những biến cố lịch sử trong buổi giao thời của hai nền văn minh Đông-Tây bắt đầu va chạm.
 
        Cả hai ông đều dùng văn thơ để bày tỏ tâm sự và chí hướng, vì thế lời văn của hai ông có một giọng điệu chân thành, dễ rung cảm lòng ngưởi. Tạo ra một cuộc bút chiến, xướng họa thực sự đúng theo nghĩa của nó. Một hiện tượng hiếm thấy trong nền văn học Việt Nam .
 
         Đó mới thực sự là họa thơ. Từ đó về sau, thử hỏi có ai xướng họa thơ đúng và hay hơn hai ông .

                                            Diên Hồng
 

Tác giả BBT sưu tầm - giới thiệu