Chúng ta đang ngồi đây bàn luận về văn chương nói chung, thơ Đường luật nói riêng. Hình như cái thú chơi tao nhã này chỉ dành riêng cho những tâm hồn đa cảm. Tôi muốn đề cập đến bài thơ TRANH TỨ BÌNH của thi hữu Đào Mạnh Khuyến đăng trên Nội san Thơ Đường Hàn Thuyên số 21/07/2011. Ở thời điểm chớm Thu, chúng ta cùng xem tranh Tứ Bình qua thơ có lẽ mọi người đều thích.
Trước khi đi vào nội dung bài thơ chúng ta cần đề cập đến một số khái niệm có liên quan:
1/Tranh Tứ Bình là gì?
Theo tác giả Đinh Hồng Hải, nghệ thuật trang trí ở những nơi sang trọng như cung vua, phủ chúa, những quan lại giàu có ngày xưa thường treo bộ tranh Tứ Quý - biểu tượng của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đối với tầng lớp bình dân tranh Tứ Quý được thể hiện trên giấy dó hay giấy bản thường gọi là tranh Tứ Bình.
Nếu hiểu nôm na từ “quý” ở đây có hai nghĩa:
- Với thời gian, mỗi quý gồm 3 tháng, ứng theo mỗi mùa.
- Với xã hội, quý có thể hiểu là quý giá, quý tộc.
Còn từ “bình” có thể hiểu là bình dân hoặc bình phẩm.
Tranh Tứ Bình của bài thơ trên đề cập đến tầng lớp đông trong xã hội - tầng lớp bình dân.
2/Tranh Tứ Quý hay Tứ Bình có mấy loại?
Theo tác giả Đinh Hồng Hải, nghệ thuật trang trí của người Việt có 5 loại. Đó là:
+ Đào - Trúc - Cúc - Tùng
+ Mai - Trúc - Cúc - Tùng
+ Mai - Trúc - Cúc - Lan
+ Mai - Trúc - Cúc - Sen
+ Mai - Sen - Cúc - Tùng
Các bộ cây này tuy là trọng tâm của các cụm trang trí nhưng ít khi đứng đơn độc, tranh thường bổ sung thêm các họa tiết phụ tạo thành những cảnh đẹp có ý nghĩa. Mỗi loài hoa, loài cây trong tranh phải tương ứng với một loài chim mới đúng quy tắc. Chẳng hạn Mai/Điểu, Hồng/Công, Kê/Cúc, Tùng/Hạc ... Mùa Xuân: hoa Mai, hoa Đào, hoa Lan; Mùa Hạ: hoa Sen, hoa Hồng; Mùa Thu: hoa Cúc, hoa Phù Dung; Mùa Đông: Cây Trúc, Cây Thông (Tùng). Ở bộ Tứ Quý hay Tứ Bình số 5 các nghệ nhân thường thể hiện Mai/ Điểu, Liên/ Áp, Cúc/ Điệp, Tùng/ Lộc hay Tùng/ Hạc
Bài thơ của tác giả đề cập đến dạng thứ 5 (Mai - Sen - Cúc - Tùng)
Bây giờ chúng ta cùng thưởng thức tranh theo thứ tự đã xếp.
a) Bức tranh thứ nhất: MÙA XUÂN
Mùa Xuân là mùa của trẻ thơ xúng xính trong những bộ quần áo mới có; mùa của tuổi trẻ khao khát tình yêu trai gái, mùa của cỏ cây đâm chồi non tơ và nhiều loài hoa đẹp nhưng điển hình phải kể đến hoa Đào, hoa Mai. Tác giả bài thơ viết:
Cỏ non xanh rợn đến chân trời
Khoe thắm đào mai rộ sắc tươi
Ríu rít đầu cành oanh học nói
Sườn non lờ lững áng mây trôi
Đào là biểu tượng của sự trường sinh bất lão. Mai được ví như người con gái chốn đài các khuê phòng hay tượng trưng cho sự thanh cao, khí tiết của người quân tử.
Tiếng của chim oanh hay chính là tiếng nói non tơ, ríu rít của trẻ thơ, tiếng của những khát vọng, ước mơ vào cuộc đời.
Chỉ với 4 câu thơ, tác giả bài thơ đã khắc họa nên những sắc màu tươi trẻ, đằm thắm và quyến rũ cùng những mơ ước của con người trong mùa Xuân.
Theo tôi khổ thơ này có ba hạn chế. Đó là:
- Câu đầu tiên lấy theo câu 41 trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du (Cỏ non xanh rợn chân trời).Tác giả nên thay hai cụm từ “Cỏ non” và “xanh rợn” để câu thơ không ảnh hưởng.
- Câu thứ hai nếu đã dùng hình ảnh của đào thì không nên có mai, hoặc ngược lại, bởi mĩ thuật không dùng cả hai đối tượng này thể hiện cùng một chỗ.
- Điệp từ “non” (Cỏ non, Sườn non)
(Theo chủ quan, tôi đề xuất như sau sẽ khắc phục được những hạn chế đã nêu):
Cỏ tơ xanh mướt đến chân trời
Khoe thắm nhành mai rộ sắc tươi
Ríu rít đầu cành oanh học nói
Sườn non lờ lững áng mây trôi
b) Bức tranh thứ hai: MÙA HẠ
Mùa Hạ là mùa mưa, mùa của sông hồ đầy nước và màu hồng của đất phù sa trên những dòng sông. Mùa của cây sen lớn lên theo nước ngập bát ngát trong hồ, mùa của hoa sen tinh khiết thanh tao. Tác giả bài thơ viết:
Sen hồng thắm đượm áng mây hồng
Bát ngát mặt hồ bát ngát trông
Con trả nép mình bên khóm lách
Ngắm làn nước biếc lộn từng không.
Khi chú ý tới cụm từ “Con trả nép mình” và “khóm lách” chúng ta sẽ thấy con trả thật nhỏ nhoi đang ngắm bầu trời trên hồ nước bát ngát cũng như con người thật nhỏ nhoi trước thiên nhiên bao la.
Chỉ với 4 câu thơ, tác giả đã vẽ ra bức tranh mùa hạ thật tinh khiết và sống động. Nghệ thuật ở chỗ Sen hồng/Mây hồng; Bát ngát mặt hồ/bát ngát trông. Đây là một bức tranh hoàn mĩ của mùa Hạ.
c) Bức tranh thứ ba: MÙA THU
Mùa Thu bầu trời như cao thêm, rộng ra ngắm nhin mặt đất, ngắm nhìn con người; Mùa Thu - mùa của tuổi trẻ nghĩ đến tình yêu, hạnh phúc lứa đôi; mùa của những người đã từng trải có dịp suy ngẫm về cuộc đời, về quá khứ; mùa của nhiều sự thay đổi. Tác giả bài thơ viết:
Bầu trời, mặt đất rộng thênh thang
Đỏ rực phù dung, cúc ửng vàng
Cặp trĩ nghiêng đầu nhìn cảnh giác
Cánh diều no gió, nắng xiên ngang.
Thật thú vị khi tác giả chọn hoa Phù dung đỏ rực với hoa cúc ửng vàng, đây chính là thời điểm giữa trưa tương ứng với nửa cuộc đời của mỗi người trước trời đất bao la vĩnh cửu.
Câu thứ tư, tác giả đã nhân cách hóa Cánh diều no gió để ứng với cặp trĩ nghiêng đầu. Cặp đối này khá hoàn chỉnh.
Những hình ảnh trong bức tranh thứ ba vẽ ra đã đại diện cho mùa thu - mùa mà mọi người yêu thích nhất trong năm.
d) Bức tranh thứ tư: MÙA ĐÔNG
Mùa Đông, con người và cảnh vật như hòa vào sự khát khao, chờ đợi, mong ước; Mùa cô đơn của những người chưa có gia đình hoặc đã có nhưng không hoàn thiện; mùa của người già hay đau yếu bệnh tật và dễ ra đi về cõi vĩnh hằng ... Tác giả bài thơ viết:
Đầu gềnh sương tỏa cảnh tiêu sơ
Lá đỏ rừng phong gió phất phơ
Cánh nhạn nghiêng mình hòa ánh bạc
Cội tùng đội tuyết đứng chơ vơ.
Với 4 câu thơ, thông qua các hình ảnh chọn lọc tác giả đã sử dụng vần (ơ) một cách tài tình để thể hiện cảnh tiêu sơ, phất phơ, chơ vơ của mùa đông; đồng thời nhân cách hóa một số hiện vật làm cho bức tranh thêm sống động ...
- Đầu gềnh hay đầu những người già tóc bạc phất phơ trước sương gió tiêu sơ.
- Cội tùng hay người già đã kinh qua sương gió ngả nghiêng nay vẫn còn đứng vững trên cõi đời này dù chỉ đơn lẻ chơ vơ một người một bóng.
Bức tranh thứ tư nếu đứng riêng không gép vào một bộ 4 bức thì hoàn mĩ; nhưng khi ngước nhìn lại bức tranh thứ ba chúng ta sẽ dễ nhận ra nhiều từ bị lặp đi lặp lại. Theo tôi, điều hạn chế chính ở chỗ này: Cánh diều, cánh nhạn, nghiêng đầu, nghiêng mình. Nếu tác giả thay bằng các cụm từ khác có thể nghệ thuật sẽ cao hơn
(Theo chủ quan, tôi đề xuất như sau sẽ khắc phục được những hạn chế đã nêu:
Đầu gềnh sương tỏa cảnh tiêu sơ
Lá đỏ rừng phong gió phất phơ
Bóng nhạn chao mình trong ánh bạc
Cội tùng đội tuyết đứng chơ vơ.)
Đọc thơ đến đây, xem tranh TỨ BÌNH đến đây cùng những cảm thụ riêng của người viết lời bình chắc chắn các bạn còn nhiều cảm thụ khác ... Đó là quyền của mỗi người ...
***
Nhà thơ Đào Mạnh Khuyến đã thừa hưởng những hình ảnh của một bộ tranh TỨ BÌNH đã có trong dân gian (Xuân, Hạ, Thu, Đông) để sáng tạo ra 4 bài thơ thất ngôn tứ tuyệt đặt gần nhau. Những hình ảnh trong thơ chính là những hình ảnh trong tranh đã được các nghệ nhân thể hiện. Dẫu sao tác giả bài thơ vẫn phải đau đầu, bóp trán để sáng tạo từ tranh ra thơ. Và bây giờ tuy không có bộ tranh TỨ BÌNH ở đây chúng ta vẫn được thưởng ngoạn chiêm ngưỡng.
Chơi tranh TỨ BÌNH là nghệ thuật truyền thống của người phương Đông (trong đó có Việt Nam) đã có từ lâu. Nó không đơn giản chỉ là tranh trang trí lịch bốn mùa, ẩn sau nó chính là tâm linh, con người cầu mong sự hoàn thiện trên cõi đời này.
Chơi thơ Đường luật cũng là nghệ thuật. Nếu chưa am hiểu về thơ Đường làm sao có thể chơi được!
Xin cám ơn nhà thơ Đào Mạnh Khuyến - tác giả của bài thơ TRANH TỨ BÌNH đã cho chúng ta xem tranh bằng thơ!
Xin cám ơn thính giả đã dành thời gian lắng nghe lời bình bài thơ này!
Cảm ơn và cảm ơn rất nhiều ./.
Chớm Thu năm 2011