Đên với Bài thơ yêu thich -
24-09-2011
den-chu-van-an.jpg Xin giới thiệu đôi diều cảm nhận về bài thơ yêu thích của Ngô Toàn Thắng - Hà Nội

THĂM ĐỀN THỜ CHU VĂN AN

                                

          Thanh Phương (Bà Rịa – Vũng Tàu)

                và Vân Anh (Hải Dương)

 

tận miền quê lũ ngập tràn,

Về thăm cổ tự Chu Văn An.

Trời cao, núi thẳm thông dào dạt.

Đất rộng, hồ xanh gió ngút ngàn.

Đức sáng ươm tài năng xã tắc.

Tâm thành luyện trí thức giang san.

Lời thầy để lại răn nhà giáo:

Phải nhớ Công bằng, chớ dối gian.

 

          Tình cờ tôi được đọc một bài thơ viết chung của hai cô giáo từ vùng đất đỏ miền sơn cuớc xa xôi (Bà rịa-Vũng tàu) và vùng quê Bánh Đậu - Thành Đông (Thành phố Hải Dương) ghi lại cảm xúc của họ khi hai người đồng nghiệp cùng về thăm đền thờ nhà giáo vĩ đại của dân tộc ta: Đền thờ cụ Chu Văn An (Chí Linh - Hải Dương). Mới thoáng đọc tưởng như cũng bình thường như mọi bài thơ tả tình, tả cảnh, nhưng đến câu cuối, tôi buộc lòng phải đọc lại lần nữa và nhiều lần nữa.

           Đây là một bài thơ Đường luật . Trước hết tôi hoàn toàn đồng ý với các cô giáo về cách sử dụng thể loại “Thất ngôn bát cú” vô cùng cao quý này để ghi lại cảm nhận của mình khi đến thăm nơi thờ phụng một nhà giáo cao quý mà thơ Đường, Nho giáo, Đạo giáo… đã trở thành phẩm chất, văn phong, đạo đức, một thời không thể thiếu của những bậc chính nhân quân tử thời đó.

Đã vậy thì ta cũng xin phép dùng sách của các Thánh Hiền để lại, kiểm định và soi xét xem các cô giáo làm thơ Đường có niêm luật không nào. Mong các cô giáo đừng giận nhé.

Căn cứ vào hai câu thơ đầu (hai câu đề) ta nhận ra đây là thể loại thơ Đường theo: “LUẬT TRẮC VẦN BẰNG”. Nghĩa là hai từ mở đầu là thanh trắc và từ thứ bẩy là thanh bằng được áp dụng cho câu thứ nhất theo công thức sau:

Câu 1: T   T    B     B    T    T     B     (T-Trắc, B-Bằng)

               Ở tận miền quê lũ ngập tràn

             Như vậy câu thứ hai phải theo công thức sau:

        Câu 2:      BB TTT BB mới chuẩn chỉ.

 

Nhưng trong thơ Đường vẫn cho, phép được vận dụng “Bất luận” để giữ ý thơ nhưng không phải tùy tiện mà bất luận chỉ được vận dụng vào các từ 1,3 và 5 nghĩa là: “Nhất tam ngũ bất luận”.

Trong câu thơ thứ hai này các cô giáo đã sử dụng “bất luận” để giữ nguyên cụm từ họ và tên cụ CHU VĂN AN (giá như cụ mang họ thanh trắc như Vũ hay Đặng… thì hoàn toàn chỉnh luật). Do đó câu thơ thứ hai có công thức về thanh như sau:

 Câu 2:   B     B    T  T    B     B   B

      Về thăm cổ tự Chu Văn  An.  (cổ tự - ngôi đền thờ cổ).

          Mong bạn đọc hết sức thông cảm và kiên trì đọc phần soi xét này là vì xưa nay vẫn coi thơ Đường là thú chơi tao nhã của “cánh mày râu nhiều chữ”, nào ngờ lần này ta bắt gặp kiểu “mài ngọc sáng” ở hai “Thân liễu yếu đào tơ”. Ngày xưa họ đâu được mon men vào “con chữ” mà chỉ được làm người : “nâng khăn sửa túi” cho các “Sĩ Tử mày râu” thôi là tốt phúc lắm rồi. Đến đây chúng ta phải cảm ơn cuộc cách mạng của dân tộc ta đã thực hiện: “Nam Nữ bình quyền”.

          Chúng ta tiếp tục khảo sát bài thơ theo công thức luật BẰNG TRẮC sau đây:

          Luật trắc vần bằng
(1) T   T     B     B    T    T     B  

            tận miền quê lũ ngập tràn,

(2) B     B      T  T     B( T)   B   B

                 Về thăm cổ  tự  Chu Văn An.

(3)  B      B     T    T      B      B    T

                  Trời cao, núi thẳm thông dào dạt.

         (4)    T    T      B    B     T    T      B

               Đất rộng, hồ xanh gió ngút ngàn.

(5)    T     T      B    B    B    T   T

                 Đức sáng ươm tài năng xã tắc.

 (6)   B    B      T     T     T     B      B

                 Tâm thành luyện trí thức giang san.

(7)   B    B    T   T   B     B    T

                Lời thầy để lại răn nhà giáo:

 (8)    T   T      B    B      T    T    B

     Phải nhớ Công bằng, chớ dối gian.

 

          (Như vậy ngoài chữ Chu đã sử dụng “bất luận” để giữ nguyên cụm từ họ và tên của cố nhà giáo ra, tất cả các từ khác trong bài hoàn toàn chuẩn luật).

Trong thơ Đường còn một đòi hỏi thật khe khắt đó là các cặp đối ý, đối nghĩa, đối từ của các câu 3 và 4 (hai câu THỰC), 5 và 6. (hai câu LUẬN). Trong bài thơ này các cô giáo sử dụng những cặp đối thật tài tình đã đành nhưng cái lối tả cảnh còn ẩn ý thật sâu xa như kiểu một họa sĩ nhìn bóng nước mặt hồ mà nghe gió thổi trên những ngọn thông reo. Bằng thủ pháp đổi vị trí các cụm từ “…thông dào dạt” và :”…gió ngút ngàn”, các tác giả đã bắn một mũi tên trúng hai đích: Vừa giữ được luật thơ vừa mô tả như mặt hồ soi bóng cảnh vật ngôi đền theo lối tranh cổ “sơn thủy hữu tình” thật tuyệt chiêu độc đáo. Đặc biệt hai từ “thẳm” và ”xanh” cũng đổi vị trí với hàm ý trên đây nhưng còn ẩn dụ sâu sắc hơn để chuẩn bị cho phần LUẬN ở cặp đối sau như muốn nói tài năng trí tuệ của Thầy cao xanh như ngọn núi, sâu thẳm như lòng hồ còn để muôn đời sau soi bóng gương sáng trong tài trí uyên thâm và đức độ cao dầy mãi mãi.  

 

Trời cao, núi thẳm thông dào dạt.

Đất rộng, hồ xanh gió ngút ngàn.

         

      Một bài thơ Đường kiểu THẤT NGÔN BÁT CÚ chỉ có năm mươi sáu từ (7 từ x 8 câu = 56 từ), được chia ra làm bốn phần chính : ĐỀ - THỰC – LUẬN – KẾT. Mỗi phần hai câu 14 từ bao hàm một thành tố liên kết hữu cơ với nhau, nhưng riêng phần giành cho hai câu LUẬN đóng vai trò cực kỳ quan trọng quyết định linh hồn của bài thơ để mở đường cho sự lưu lại lòng người đọc ở hai câu KẾT. Tác giả bài thơ này chắc hẳn đã có nhiều tháng năm trăn trở với “NGHỀ CAO QUÝ NHẤT TRONG NHỮNG NGHỀ CAO QUÝ” nên đã chuyển tải sự trân trọng tấm gương ngời sáng của một “VĨ NHÂN LÀM NGHỀ CAO QUÝ NHẤT” bằng hai câu LUẬN thật tinh tế và có lẽ không thể có cách so sánh nào hơn được.

 

 Đức sáng ươm tài năng xã tắc.

Tâm thành luyện trí thức giang san.

         

          Ta hãy để bốn câu giữa bài thơ này riêng rẽ ra xem sao nào? Một bài thơ tứ tuyệt ca ngợi công đức và tài trí của một bậc Vĩ nhân làm nghề: DẬY NGƯỜI.

 

Trời cao, núi thẳm thông dào dạt.

 Đất rộng, hồ xanh gió ngút ngàn.

 Đức sáng ươm tài năng xã tắc.

 Tâm thành luyện trí thức giang san.

 

          Chúng ta nhìn hàng dọc các từ đầu mỗi câu theo kiểu đọc chữ Nho xem sao:

TRỜI -  ĐẤT -  ĐỨC -  TÂM.

          Thâm sâu quá, còn gì có thể hơn khi một con người hội đủ cả  TRỜI -  ĐẤT -  ĐỨC -  TÂM. Chỉ có ở những người cao quý như nhà giáo vĩ đại của dân tộc ta: CHU VĂN AN mà thôi.

Trước khi vào hai câu thơ KẾT ta hãy quay trở lại câu đầu (PHÁ ĐỀ). Câu thơ diễn tả về một vùng “…lũ ngập tràn”. Không hiểu có thâm ý gì nhưng thực tế một trong hai cô đã và đang sống ở vùng lũ lụt thực sự. Nếu thế thì còn gọi gì là thơ nhỉ. Theo tôi phải nên nhận ra các tác giả đang mượn lối “ngôn tại ý ngoại” để hàm ý về “nghề cao quý nhất” mà hàng ngày các thày, cô giáo đảm nhiệm đang ở trạng thái “…lũ ngập tràn”. Khi cơn lũ đi qua rác rưởi vương cành mận. Cóc, nhái, ễnh ương cũng có cơ tiếp cận bàn thờ. Chưa biết đến bao giờ cơn lũ mới tạm ngưng dù cơn lũ thực ngoài đời đã nhường chỗ cho nắng ráo. Họ từ miền quê “lũ” ấy đến vùng núi Côn Sơn, Kiếp Bạc để tìm sự “bằng an,thanh cao”, để nghe gió ngút ngàn dào dạt và nghe tiếng thông reo, rồi soi bóng xuống mặt hồ xanh thẳm để tìm ra một lời răn thật giản dị chân thành và trung thực như chân lý.

 

Lời thầy để lại răn nhà giáo:

Phải nhớ Công bằng, chớ dối gian.

         

 Không riêng gì nghề nhà giáo mà bất luận làm nghề gì trên thế gian này đều đòi hỏi trung thực, công bằng và tuyệt đối không gian dối; đặc biệt “nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý” thì lời răn này phải được đưa lên hàng đầu, thường trực trong mọi suy nghĩ, hành động, cử chỉ, hành vi, lời nói của người được giao trọng trách thay mặt nhà nước và nhân dân giáo dục con người.

Đương nhiên không nhất thiết phải đến đây mới nhận ra điều đó, nhưng tại đây với cảnh vật hữu tình lại hàm chứa những yếu tố tâm linh, họ nhận ra lời răn này là muốn gửi gắm tới tất cả chúng ta những người đang sống và có trách nhiệm với cuộc sống cần phải làm gì cho vơi dần cơn: ”… lũ ngập tràn” để cuộc đời bớt dần: những dối gian, lừa đảo, tham nhũng và những điều còn tồi tệ hơn.

Dù sao cũng nên ghi nhận bài thơ như một thông điệp nhẹ nhàng của những người trong cuộc “ôn cố tri tân”. Họ cùng gói lòng mình thật khéo để sẻ chia với cộng đồng cho khuây khỏa và vơi dần những trăn trở trong nghề.

Một lần nữa xin cảm ơn hai cô giáo đã cho đời một áng thơ Đường giản dị nhưng vẫn thật đậm đà tình yêu của những người làm : ”nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”.    

 

CHIẾN SĨ – NGHỆ SĨ

Tác giả Ngô Toàn Thắng - Hà Nội