GIỚI THIỆU VỀ BÀI THƠ “GIANG BẠN ĐỘC BỘ TẦM HOA” CỦA ĐỖ PHỦ
24-09-2011
1.jpg Đến với thơ Đường giống như ta được bầu bạn với người tâm giao tri kỷ. Ta có thể tìm thấy ở đó sự đồng cảm tri âm: những hình tượng bay bổng mà thăm thẳm, những tâm tư sâu lắng vời vợi, những triết lý sâu xa mà thấm thía nhân tình.

Thiên nhiên trong thơ Đường có một sức hấp dẫn đặc biệt, cho ta cảm nhận cái vô cùng vô tận của không gian, hư ảo của thời gian, cái lẽ vô thường, không bất biến của cuộc đời, biết sống, biết yêu, biết cảm nhận cả cái vô giá mong manh, cái hiện hữu và cái hư vô, cái đang còn và cái đã mất. Cho ta gần hơn với “đạo” - lẽ sống của con người trên trần gian.

Đến với bài thơ “Giang bạn độc bộ tầm hoa” của thi thánh Đỗ Phủ là chúng ta đến với không gian đầy hoa và đượm hương sắc:

Phiên âm:

“Hoàng Tứ nương gia hoa mãn khê,

Thiên đoá vạn đoá áp chi đê.

Lưu liên hí điệp thời thời vũ,

Tự tại kiều oanh kháp kháp đề”.

Dịch thơ:

                   “Cạnh nhà cô Tứ hoa đầy lối,

Ngàn đoá muôn bông ép trĩu cành.

Lưu luyến quẩn quanh vờn lũ bướm,

Ung dung thánh thót hót hoàng oanh”.

                                                                (Nguyễn Khắc Phi dịch)

Nếu Lý Bạch được phong là “Thi tiên” thì Đỗ Phủ lại được tặng danh hiệu là “Thi thánh”; “Thơ  Lý Bạch đưa ta tiêu dao trên chín tầng mây, còn thơ Đỗ phủ khiến ta phải ngậm ngùi thương xót”. Lời giảng dạy của cô giáo dạy văn hồi tôi còn ngồi trên ghế nhà trường Trung học cơ sở mãi ghi vào  tâm thức của tôi. Giờ đây khi đã học qua ngưỡng cửa đại học và đã bước vào ngôi nhà Thạc sĩ tôi hiểu rằng: thơ Đỗ Phủ không chỉ đề cập đến những nỗi đau khổ của cuộc đời với một tâm tư dằn vặt, đau đáu nỗi đau về nhân tình thế thái mà thơ ông còn đượm nét tươi thắm, tràn đầy sinh khí với  niềm yêu đời, yêu thiên nhiên tha thiết. “Giang bạn độc bộ tầm hoa” là một bài thơ như thế. Ở bài thơ này Đỗ Phủ đã phác thảo nên những  vẻ đẹp sinh động, đa dạng của cảnh vật trong một bức  tranh mùa xuan tràn trề  sức sống.

Điều này cũng dễ hiểu: trong cuộc đời đầy gian truân khổ cực của mình Đỗ Phủ đã từng sống phong lưu, ngao du sơn thuỷ. Từ năm 760 trong hơn năm năm sống  ở Thành Đô – Thủ phủ của tỉnh Phú Xuyên ngày nay được sự giúp đỡ của bạn bè, Đỗ Phủ đã dựng

thảo đường bên bờ suối Cán Hoa ở phía tây Thành Đô. Chính ở giai đoạn đầu của thời  định cư  nơi đây Đỗ Phủ đã sáng tác bài thơ này.

Có thể nói, sinh thời Đỗ Phủ sống trong cảnh đất nước loạn lạc, dân chúng điêu linh cho nên đôi mắt và trái tim nồng ấm của nhà thơ đã bao lần phải chứng kiến và rung động bởi  những cảnh ngang trái ở đời. chúng ta thấy Đỗ Phủ từng thương người đến cháy lòng khi viết những chùm thơ “Tam lại” và “Tam biệt”. Ta cũng bắt gặp thi nhân thương mình đến tái tê khi ông viết

“Mao ốc vị  thu phong sở phá ca” và “Đăng cao”, vì thế chúng ta càng phải trân trọng, nâng niu những vần thơ  tràn ngập thiên nhiên tươi đẹp được hoà quyện trong tâm hồn thanh cao, trong sáng của nhà thơ. Hai dòng thơ đầu bài mở ra trước mắt người đọc một cảnh quan đầy hoa, ngập tràn

hương sắc của  những bông hoa bên con suối cạnh nhà cô Hoàng Tứ:

“Hoàng Tứ nương gia hoa mãn khê,

Thiên đoá vạn đoá áp chi đê.”

Câu thơ mở đầu bài thơ đầy bất ngờ và khiến tôi không khỏi băn khoăn, thắc mắc: Hoàng Tứ  là ai?  Cô có liên hệ gì với nhà thơ không; hay chỉ là một hình ảnh tô điểm cho bài thơ   thêm  phần lộng lẫy? Theo tôi, Hoàng Tứ không hẳn là một nhân vật có thật. Sự xuất hiện của cô   gái tên Hoàng Tứ là  một dụng ý nghệ thuật của tác giả, nhằm làm cho cảnh vật trong bài thơ thêm hữu tình: còn gì đẹp hơn cảnh sắc nơi đây, giữa không gian đầy hoa thấp thoáng  hình ảnh thiếu nữ, phải chăng hoa cũng  là người và người ẩn trong hoa?  Ở đây Đỗ Phủ như một hoạ sĩ tài hoa, đang đắm mình giữa thiên nhiên cảnh vật, và bằng nét bút điêu luyện, ông đã tạo nên một bức tranh xuân tràn trề nhựa sống. Dường như đây không phải là những nụ hoa còn e ấp đợi gió xuân đến hay những đọt chuối “Tình  thư một bức phong còn kín”, cũng không phải là lưa thưa “trắng điểm một vài bông hoa” mà tất cả những bông  hoa đều đã bung nở “mãn khai”, nở đầy lối đi, bông nọ đua chen với bông kia, khiến cho cành hoa thêm trĩu nặng và như bị kéo thấp xuống thêm.

Xưa nay đã có biết bao nhà thơ đã tả hoa nhưng hầu hết chỉ tả khái quát với đôi ba nét chấm phá:

                                           “Lan nhược tự xuân hạ,

Thiên uất hà thanh thanh.

U độc không lâm sắc,

Chu nhuy xương tử hành”.

                   (Trần Tử Ngang - Cảm ngộ)

(Thờ ơ xuân hết hè qua,

Chòm lan khóm nhược sao mà xanh xanh!

Rừng không tươi đẹp một mình,

Cái bông đỏ thắm, cái cành tím tươi).

Hay:

                   “Khứ tuế Kinh Nam mai tứ tuyết,

Kim niên Kế Bắc tuyết như mai.

Cộng ta nhân sự vô thường định,

Thả hỉ niên hoa khứ phục lai”.

                   (Trương Duyệt - U Châu tân tuế tác)

(Kinh Nam năm ngoái mai như tuyết,

Kế Bắc giờ đây tuyết như mai.

Buồn nỗi việc người thay đổi mãi,

Mừng thay xuân mới trở xoay hoài).

          Bút pháp tả hoa của Đỗ Phủ lại khác, vừa bao quát vừa chi tiết. Ông bao quát “hoa mã khê” (hoa đầy lối), tiếp sau đó là chi tiết: “Thiên đoá vạn đoá áp chi đê” (Ngàn đoá vạn đoá ép cành lá trĩu thấp xuống). Chi tiết này nhằm cụ thể hoá từ “mãn” (đầy). “áp chi đê” (ép trĩu cành) là cách nói nhấn. Tại sao tác giả không nói quả áp chi đê mà lại nói hoa áp chi đê? Phải chăng dùng từ quả thì bình thường quá không có sức gợi tả? Quả thật vậy! Nói quả áp chi đê là hết sức thông thường, đó là chuyện đương nhiên, còn nói hoa áp chi đê thì đúng là cách nói mới lạ nhằm cực tả được trạng thái đua chen nở rộ của hoa xuân, sức xuân, tình xuân… cách nói này ta cũng bắt gặp trong thơ Huy Cận: “Nắng xuống trời lên sâu chót vót” nhà thơ không sử dụng từ cao chót vót như cách nói thông thường mà lại dùng từ sâu chót vót nhằm khái quát không gian rộng lớn đa chiều và đặc tả nỗi cô đơn ủa con người giữa không gian mênh mông đó.

     Đến với thơ tuyệt cú Đường luật ta thường gặp âm điệu hài hòa và hay sa vào  “quản huyền”  Do  đó   có thể át luật:

                      “Thiên đóa vạn đóa áp chi đê”

                      (Nghìn đóa muôn bông ép trĩu cành)

      Theo luật thi bài thơ làm theo thể trắc thì tiếng thứ hai và tiếng thứ tư của dòng thơ  thứ hai  phải mang thanh bằng mới đúng luật. Nhưng ở đây tác giả lại dùng thanh trắc  (đóa), vượt  ra khỏi khuôn khổ của luật cốt để diễn tả cho được mật độ đậm đặc, mức  độ  tăng cấp của  “ngàn đóa vạn đóa” đang đua nở. Những bông hoa như đang khoe sắc hương trước vũ trụ bao la và như muốn giao cảm với con người. Chỉ bằng hai dòng thơ với mười bốn tiếng mà ta như thấy cả một rừng hoa bên dòng suối cạnh nhà cô Hoàng Tứ.   Nếu như hai câu đầu nhà thơ đặc tả hoa thì hai câu sau nhà thơ đặc tả những cánh bướm  và những tiếng chim:

“Lưu liên hí điệp thời thời vũ,

                              Tự tại kiều oanh kháp kháp đề”.

(Lưu luyến quẩn quanh vờn lũ bướm,

Ung dung thánh thót hót hoàng oanh).

       Đây là một đôi câu đối rất chỉnh. Nó cho ta thấy cảnh một đàn bướm đang múa rập rìu  trên những cánh hoa xuân và một bầy oanh đang hát vang chào mùa xuân xinh đẹp. Cảnh vật ấy, đôi câu đối ấy đã làm tăng thêm vẻ đẹp của hoa nói riêng và của bức tranh xuân nói chung. Cả bài  thơ không hề xuất hiện một tính từ nào miêu tả màu sắc của hoa, cũng không một lần đề cập đến hương thơm quyến rũ của hoa nhưng độc giả - những người yêu mến thơ Đương vẫn cảm nhận được màu sắc, hương vị của những bong hoa đua nở ấy. Đây chính là cái tài của nhà thơ Đỗ Phủ :  ngôn ngữ thơ hàm súc, cô đọng, nói ít gợi nhiều.

     Trong hai câu thơ trên Đỗ Phủ đã sử dụng dồn dập các từ láy bộ phận (lưu liên, tự tại) và từ láy toàn  phần (thời thời, kháp kháp) vừa tạo được âm vang cho câu thơ, vừa miêu tả một cách sinh động  cảnh sắc hoa thơm, bướm lượn, chim hót vang trời. Có thể nói, Đỗ Phủ rất xem trọng cái đẹp của  âm nhạc trong thơ, thơ ông đạt đến trình độ “thi trung hữu nhạc”. Chẳng thế mà, Đỗ Phủ đã vận dụng rất tài tình việc điệp song thanh và tượng thanh “lưu liên” và “tự tại” là hai từ song thanh  như một chuỗi ngọc, âm điệu uyển chuyển. “kháp kháp” là từ tượng thanh hình dung tiếng kêu của con chim kiều oanh, cho người ta tưởng tượng thính giác của cảnh. “thời thời”, “kháp kháp” là điệp từ cho hai câu trên, dưới đối nhau khiến ý của từ càng mạnh hơn, sinh động hơn, càng biểu đạt được tình yêu hoa, yêu bướm của thi nhân, và biểu đạt ý vui mừng bừng tỉnh khi nghe   tiếng chim oanh kêu.

            Từ “vũ” ở câu ba và từ “oanh” ở câu bốn là âm lưỡi, ở đây tác giả đã vận dụng một chuỗi âm lưỡi tạo thành ngôn ngữ tình cảm để nói lên cảm thụ vui vẻ không đừng được trong lòng thi nhân. Thiên nhiên rộn rã, hữu tình: nhiều hoa lắm bướm, bướm vờn hoa nô đùa quấn quýt không nỡ rời khỏi muôn hoa đương tung tóe sắc màu. Hai chữ “hí” (cười, nô đùa) và “vũ” (múa) được nhà thơ sử dụng thật tinh tế và giàu sức gợi cảm. Nó vẽ ra trước mắt chúng ta một bức tranh sinh động đầy âm sắc và rộn rã nhạc điệu. Mà đâu chỉ có hoa rực rỡ, bướm thắm tươi, cả chim kia cũng yêu kiều khả ái: “Tự tại kiều oanh kháp kháp đề”. Những tiếng hót đầy tình cảm của bầy chim oanh làm cho không gian như giãn nở ra. Không gian màu xuân vốn đã tươi trẻ, rực rỡ lại càng rộn rã vui tươi hơn. Cái hồn của những bông hoa hay của cả bức tranh xuân được quyết định bởi sự kết hợp tài tình đó. Người ta nói thơ Đường có đặ điểm “Thi trung hữu họa” quả là không sai và Đỗ Phủ đúng là bậc thầy của thơ tả cảnh.

            Hai tiếng “tự tại” (ung dung, thảnh thơi) dường như không chỉ để nói về chim oanh đang thảnh thơi hát khúc nhạc xuân mà còn là tâm thế của một con người biết yêu, biết cảm, biết nâng niu gìn giữ cái đẹp của tạo hóa – thiên nhiên, vũ trụ bao la. Con người đó hẳn là có một tâm hồn trong sáng, một trái tim ấm nồng đang nhấm nháp hương vị của cuộc đời. Đồng thời nó còn gợi tả cảnh thanh bình, trong lành, mối tương giao hòa hợp giữa con người với thiên nhiên.

            Cả bài thơ là một bức tranh đẹp hài hòa giữa tình và cảnh. Không gian yên bình được lồng trong thời gian đang vào xuân, với cảnh vật nên thơ tràn trề nhựa sống: muôn hoa đưa nở khoe hương sắc, những cô cậu bướm đủ màu đang múa lượn quanh, đâu đó tiếng chim hót líu lo, và đặc biệt bức tranh còn được điểm tô bằng bóng dáng thấp thoáng của cô thiếu nữ có tên Hoàng Tứ. Phải là con người yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm mới viết lên được những vần thơ hay, bức tranh đẹp nhường vậy.

            Nghiên cứu bài thơ này tôi luôn băn khoăn tự hỏi: Thiên nhiên trong bài thơ thì cân đối, hữu tình còn con người ở đây (nhà thơ) thì lại đơn lẻ (độc bộ tầm hoa). Vậy có phải nhà thơ đi “tầm hoa” hay không? Cả bốn câu thơ trong bài đều không nói rõ điều này. Nhà thơ không phải đi tìm mà đã thấy, và cái lạ hơn nữa là cả bốn dòng thơ cũng đều không nói rõ được cái tên của loài hoa, hoa mà nhà thơ đang đi tìm là hoa gì. Hơn nữa xuyên suốt bài thơ không có một tiếng nào nói đến màu sắc, hương thơm của ngàn hoa mà Đỗ Phủ đi tìm. Điều đặc biệt lạ là dòng sông mà nhà thơ nói “một mình dạo chơi tìm hoa ven sông” mà cả bài không một tiếng nào gợi tới dòng sông, nước sông, hình dáng của sông ra sao? Vậy phải chăng đây là một thứ hoa, một dòng sông tâm tưởng, mang tính ước lệ tượng trưng cốt để thể hiện một nỗi ước mong, một niềm hy vọng của nhà thơ về một xã hội tốt đẹp đầy tình người? Dòng sông ấy chính là dòng sông khát vọng, dòng sông của hạnh phúc, của tình đời.

            Bài thơ tuy ngắn mà ý tứ thật sâu xa, dồi dào, giàu sức chất chứa đã để lại trong lòng người đọc nhiều điều cần phải suy ngẫm bên những ý vị ngọt ngào. Chúng ta nhận thấy từ cảnh vật được miêu tả tới hình thức cấu tứ ngôn ngữ được sử dụng đều toát lên thế cân đối, hài hòa tạo nên vẻ đẹp hữu hình của một bức tranh xuân tràn đầy sức sống, khơi gợi ở lòng người một tình yêu, một khát vọng sống mãnh liệt, một khát vọng được giao hòa, giao cảm với thế giới xung quanh.

            Có thể nói, nội tâm hóa là nghệ thuật đặc sắc của thi nhân đời Đường nói chung, của Đỗ Phủ nói riêng khi xây dựng bức tranh thiên nhiên “Giang bạn độc bộ tầm hoa”. Nó vừa là sản phẩm của cảm xúc và trí tưởng tượng mãnh liệt, vừa là sự bộc lộ mối giao cảm đặc biệt giữa con người và vũ trụ theo quan niệm: Thiên - nhân nhất thể, thiên - nhân cảm ứng, âm - dương giao cảm…

                                                                                       ThS. Lê Thị Hải

Tác giả BBT sưu tầm - giới thiệu