THÔNG BÁO

Choa nam moi.jpg    Năm cũ đã qua, năm mới - 2018 lại tới, những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. theo thời gian lùi dần về quá khứ

Đảng ta , nhân dân ta đang tập trung quyết liệt chống tham nhũng, và cải cách hành chính nhằm làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn    

     Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất tích cực ....

 

Đôi nét luận bàn thêm về thơ luật Đường
13-09-2011
Chim chuyeàn caønh.gif    Đọc, ngâm, dịch, họa, thậm chí làm thơ luật Đường ( Trung Hoa ) xưa kia và cũng như ngày nay là một thú tiêu khiển tao nhã của người Việt Nam.

          Đôi nét luận bàn thêm về thơ luật Đường

 

    Đọc, ngâm, dịch, họa, thậm chí làm thơ luật Đường ( Trung Hoa ) xưa kia và cũng như ngày nay là một thú tiêu khiển tao nhã của người Việt Nam. Thơ Đường hay Đường Thi là thơ được sáng tác vào thời nhà Đường (618-907 Tây lịch).Thơ được du nhập vào nước ta có chừng trên 1000 năm. Do đó khi nói làm thơ Đường có lẽ ta nói đến làm một bài thơ theo thể luật thơ của nhà Đường.  Gọi thể thơ đó là (luật thi: ) hay thơ luật Đường thì đúng hơn là thơ Đường. Nhưng do thói quen ta thường gọi là thơ Đường , cũng như gọi thơ lục bát ... ( luật lục bát) vậy .

   Theo cách phân chia các chương mục trong Đường Thi Tam Bách Thủ của Hàng Đường Thoái Sĩ, ta có thể nhận ra 6 thể thơ Đường chia làm 2 nhóm: thơ Cổ phong hay Cổ thể và thơ Luật hay thơ Đường Luật.

Cổ phong hay Cổ thể gồm 2 thể:

                                                         Cổ phong ngũ ngôn

                                                         Cổ phong thất ngôn

                  Thơ Luật hay thơ Đường Luật gồm 4 thể:

                                 Ngũ ngôn bát cú - 5 chữ 8 câu

                                 Thất ngôn bát cú - 7 chữ 8 câu

                                  Ngũ ngôn tuyệt cú - 5 chữ 4 câu

                                  Thất ngôn tuyệt cú - 7 chữ 4 câu

 

                   Xin phép được luận bàn về Thơ Luật hay Thơ Đường Luật

 

   Theo luật của thơ Đường, một bài thơ phải đáp ứng được các yêu cầu về luật bằng trắc, niêm vận, cấu trúc và đối xứng của bài thơ.  Giá trị của bài thơ, ngoài ý tứ, được dựa chặt chẽ vào các qui định này.  Thể Thất Ngôn Bát Cú (TNBC) có nhiều chữ nhất được giải thích ở đây vì phức tạp hơn hết.  Dựa trên các hiểu biết về luật của thơ TNBC, luật của thơ Ngũ Ngôn Bát Cú (NNBC), Thất Ngôn Tứ Tuyệt (TNTT) và Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt (NNTT) sẽ được trình bày bằng cách làm đơn giản hay bớt đi các yêu cầu của thể Thất ngôn bát cú

 

 1 . Luật Bằng Trắc

 

Luật Bằng Trắc gồm có: Thanh,  Luật,  Niêm và Vận

 

  2.   Thanh

 

             Gồm 2 Thanh Bằng và Thanh Trắc.

 

  2 .1 Thanh Bằng (B) là những tiếng hay chữ không có dấu như: hoa, âm, thanh... và những tiếng hay chữ có dấu huyền ( `) như: hòa, người, trời...

 

 2.2  Thanh Trắc (T) là những tiếng hay chữ có dấu sắc ( ' ), dấu hỏi ( ? ), dấu ngã ( ~ ), và dấu nặng ( . ).  Ví dụ: lá, đáo, tưởng, đỉnh, cũ, vĩ, tự, lộ...

 

  3 . Luật

 

    Luật của bài thơ TNBC được căn cứ vào chữ thứ 2 của câu đầu. TNBC làm theo Luật Bằng  nếu chữ thứ 2 ở câu đầu thuộc thanh bằng và Luật Trắc nếu chữ thứ 2 ở câu đầu thuộc thanh trắc.  Căn cứ vào thanh của chữ cuối câu đầu, bài thơ còn thuộc Vần Bằng hay Vần Trắc.  Từ 2 luật và 2 vần, ta có 4 dạng thơ TNBC.  Mỗi dạng thơ có những đòi hỏi về thanh của các chữ trong câu và niêm vận khác nhau.   Các ký hiệu dùng dưới đây có ý nghĩa như sau:

 

  B : thanh bằng bất luận (xem đoạn 2.1.5)

  : thanh bằng phân minh và/hoặc niêm (xem đoạn 2.1.3)

  B : thanh bằng vần (xem đoạn 2.1.4)

  T : thanh trắc bất luận

  : thanh trắc phân minh và/hoặc niêm

Lưu ý:

a- . Vì có rất ít các bài thơ làm theo đúng 100% luật bằng trắc, các bài thơ đưa làm ví dụ chỉ có tính cách minh họa và ứng dụng biệt lệ nêu ở trên . 

b- . Một số các bài thơ được dịch theo thơ Đường Luật, nhưng không nhất thiết theo dạng của bài thơ nguyên thủy.

 

 Luật Bằng Vần Trắc:

 

1  B B T T B B T
2. T T B B T T (V)
3. T T B B B T T
4. B B T T T B B (V)
5. B B T T B B T
6. T B T B (V)
7. T T B B B T T
8. B B T B (V)

 

Khách Chí của Đỗ Phủ

1. Xá nam xá bắc giai xuân thủy
2. 
Ðản kiến quần âu nhật nhật lai 
3. 
Hoa kiến bất tằng duyên khách tảo
4. 
Bồng môn kim thủy vị quân khai 
5. 
Bàn tôn thị viễn vô kiêm vị 
6. 
Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi 
7. 
Khẳng dữ lãng ông tương đối ẩm 
8. 
Cách ly hô thủ tận dư bôi. 

 

 

 

 Luật Bằng Vần Bằng:

 

 

1  B B T T B B B (V)
2. T T B B T T (V)
3. T T B B B T T
4. B B T T T B B (V)
5. B B T T B B T
6. T B T B (V)
7. T T B B B T T
8. B B T B (V)

 

Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng Đài

                                                   của Lý Bạch 
1. 
Phượng Hoàng đài thượng phượng hoàng du 
2. 
Phượng khứ đài không giang tự lưu 
3. 
Ngô cung hoa thảo mai u kính 
4. 
Tấn đại y quan thành cổ khâu 
5. 
Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại 
6. 
Nhị thuỷ trung phân Bạch Lộ châu 
7. 
Tổng vị phù vân năng tế nhật 
8. 
Trường An bất kiến sử nhân sầu.

 

 

 

 

  Luật Trắc Vần Bằng:

 

 

1. T T B T B (V)
2. B B T B B (V)
3. B B T T B T
4. T T B T B (V)
5. T T B T
6. B B T T T B B (V)
7. B B T
8. T T B T B (V)

 

Tích Vũ Võng Xuyên Trang Tác của Vương Duy
1. Tích vũ không lâm yên hỏa trì
2. Chung lê xuy thử hướng đông ti
3. Mạc mạc thủy điền phi bạch lộ
4. Âm âm hạ mộc chuyển hoàng ly
5. Sơn trung tập tĩnh quan triêu cẩn
1
6. Tùng hạ thanh trai chiết lộ quỳ
7. Dã lão dữ nhân tranh tịch
2 bãi
8. Hải âu
3 hà sự cánh tương nghi.

 

 

 

 

 Luật Trắc Vần Trắc:

 

 

1. T T B T T
2. B B T B B (V)
3. B B T T B T
4. T T B T B (V)
5. T T B T
6. B B T T T B B (V)
7. B B T
8. T T B T B (V)

 

Khiển Bi Hoài Kỳ Nhị

                      của Nguyên Chẩn

1. Tích nhật hý ngôn thân hậu ý
2. Kim triêu giai đáo nhãn tiền lai
3. Y thường dĩ phóng hành khán tận
4. Châm tuyến do tồn vị nhẫn khai
5. Thượng tưởng cựu tình liên tỳ bộc
6. Dã tằng nhân mộng tống tiền tài
7. Thành tri thử hận nhân nhân hữu
8. Bần tiện phu thê bách sự ai.

 

 

 

 

 

 

 4 . Niêm

 

Niêm đòi hỏi 2 từ ở cùng vị trí trong 2 câu khác nhau phải cùng thanh bằng hoặc thanh trắc.  Ví dụ dưới đây là của bài thơ Luật Bằng Vần Bằng:

 

1  B B T T B B B (V)
2. T 
T B B T T (V)
3. T 
T B B B T T
4. B 
B T T T B B (V)
5. B 
B T T B B T
6. T 
T B T T B (V)
7. T 
T B B B T T
8. B 
B T B (V)

 

  Từ 2 và từ 6 trong câu 1 niêm với từ 2 và từ 6 trong câu 8 (các từ màu đỏ).

 

  Từ 2 và từ 6 trong câu 2 niêm với từ 2 và từ 6 trong câu 3 (các từ màu xanh lá cây).

 

    Từ 2 và từ 6 trong câu 4 niêm với từ 2 và từ 6 trong câu 5 (các từ màu xanh dương).

 

 Từ 2 và từ 6 trong câu 6 niêm với từ 2 và từ 6 trong câu 7 (các từ màu xanh là cây).

 

Thật ra do luật bằng trắc đòi hỏi, một bài thơ đúng niêm các câu 1, 4, 5, và 8 niêm với nhau và các câu 2, 3, 6 và 7 niêm với nhau.

 

  Các dạng thơ Luật Bằng Vần Trắc, Luật Trắc Vần Bằng và Luật Trắc Vần Trắc cũng niêm như thơ Luật Bằng Vần Bằng.

 

 

 5 . Vận

 

Vận hay vần của bài thơ là vần của những từ cuối câu. 

 

  Trong bài thơ Vần Bằng, các từ cuối câu 1, câu 2, câu 4, câu 6 và câu 8 phải là thanh bằng và cùng vần.

 

2.1.4b  Trong bài thơ Vần Trắc, các từ cuối câu 2, câu 4, câu 6 và câu 8 phải là thanh bằng và cùng vần.

 

 

6.   Biệt Lệ

 

    Bài thơ đúng luật không bị thất niêm (không đúng niêm) hay lạc vận (sai vần).  Luật bằng trắc được áp dụng chật chẽ trong thi cử thời xưa.  Luật bằng trắc rất khó tuân thủ 100% nên trong sáng tác bình thường có thể vận dụng biệt lệ "Nhất Tam Ngũ bất luận, Nhị Tứ Lục phân minh".  Nhị tứ lục phân minh có nghĩa là từ 2, 4 và 6 trong mỗi câu phải theo đúng quy định bằng trắc của dạng bài thơ (phần  Luật).  Nhất tam ngũ bất luận có nghĩa là các từ 1, 3 và 5 xài thanh bằng hay trắc cũng được.  Sự nới rộng nầy trong luật thơ Đường làm cho việc dịch và làm thơ Đường Luật có phần dễ dàng hơn.

 

 Theo Lê Nguyễn Lưu trong Đường Thi Tuyển Dịch,  luật thơ trong cung đình khoa cử đòi hỏi:

                         Bài thơ luật trắc vần bằng có câu 1 như sau:  B B T T T B B

                         Bai thơ luật bằng vần trắc có câu 1 như sau:  T T B B B T T

Nhờ có biệt lệ "nhất tam ngũ bất luận", nên dạng thơ TNBC có thể được trình bày đơn giản để các câu từ 1 đến 8 của bài thơ luật trắc giống nhau, dù là bài vần trắc hay bài vần bằng, trừ từ cuối của câu 1 phải thuộc thanh trắc hay thanh bằng.  Các bài thơ luật bằng cũng giống nhau như thế.  Tóm lại 4 dạng thơ có thể gộp lại làm 2 dạng luật trắc hay luật bằng, mỗi dạng có vần trắc hay bằng.

 

Xem ví dụ dưới đây về một bài thơ luật trắc áp dụng "Nhất Tam Ngũ bất luận".  Bài Lệ của Lý Thương Ẫn rất chỉnh về niêm vận.  Câu 1, câu 3, câu 4, câu 6, câu 7 và câu 8 từng từ  theo đúng luật bằng trắc.  Tuy nhiên, từ 3 câu 2, từ 1 và 3 câu 5 (các từ được gạchdưới)đã  xử dụng "Nhất Tam Ngũ bất luận".

 

 

1. T T B T B (V)
2. B B T B B (V)
3. B B T T B T
4. T T B T B (V)
5. T T B T
6. B B T T T B B (V)
7. B B T
8. T T B T B (V)

 

Lệ của Lý Thương Ẩn
1. Vĩnh hạng trường niên oán ỷ la 
2. Ly tình chung nhật tứ phong ba 
3. Tương giang trúc thượng ngân vô hạn 
4. Nghiễn thủ bi tiền sái kỷ đa 
5. Nhân khứ Tử đài thu nhập tái 
6. Binh tàn Sở trướng dạ văn ca 
7. Triêu lai Bá thuỷ kiều biên liễu 
8. Vị để thanh bào tống ngọc kha.

 

 

                                  Phí Minh Tâm

                               (ĐĐ st)

                                                                                           laphanthuy

Tác giả BBT sưu tầm - giới thiệu