THĂM THẲM XUÂN THU ĐÁ CÓ MÒN ....
30-04-2011
 1.jpg Thi bá Thái Doãn Mai có nghiên cứu hai bài thơ Đường cổ, và tạm dịch xin trân trọng giới thiệu :

                          THĂM THẲM XUÂN THU ĐÁ CÓ MÒN

                          BIỂN RỪNG CÒN ĐÓ NÉT CHÂU  SON

 

                                            Là 2 ông cháu, 2 hoàng đế, là 2 nhà thơ được Chủ tịch Hồ Chí Minh kính cẩn đánh giá bằng 6 câu lục bát:              

                                    “ Mười năm sự nghiệp hoàn thành,

                              Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan

                                   Vì dân hăng hái kết đoàn

                               Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng

                                     Vua hiền có Lê Thánh Tôn

                                 Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành”

     Họ để lại 2 bài thơ Đường trên 2 vách đá núi: một ở vùng núi Tây Bắc Tổ quốc , một ở vùng biển Đông Bắc Tổ quốc. Xin được thắp hương khấn nguyện , lần theo vách đá trang trọng ghi lại  2 bài thơ đó:

        

                   Bài 1/   Chinh Đèo Cát Hãn quá Long thủy đề

                                         (Lê Thái Tổ -1431)

Kì khu hiểm lộ bất từ nan, lão ngã do tồn thiết thạch can.

Hào khí tảo thanh thiên vụ chướng, Tráng tâm di tận vạn trùng san.

Biên phòng hảo vị trù phương lược ,Xã tắc ưng tu kế cửu an.

Hư đạo nguy than tam bách khúc,Như kim chỉ tác thuận lưu khan.

 

                  Bài 2/ Ngự chế Thiên Nam động chủ đề

                                      (Lê thánh Tôn 1468)

 

Cự tẩm uông dương trào bách xuyên ,Loạn sơn kì bố bích liên thiên.

Tráng tâm sơ cảm hàm tam cổ, Tín thủ giao đề tốn nhị quyền.

Thần bắc khu cơ sâm hổ lữ, Hải đông phong toại tức lang yên.

Nam thiên vạn cổ sơn hà tại ,Chính thị tu văn yển võ niên.

                                       ****************

Tác giả 2 bài thơ là 2 nguyên thủ Quốc Gia ,2 bài thơ ra đời trong hoàn cảnh đất nước đã độc lập , trong thế tự cường. Đọc 2 bài thơ ta như còn nghe rõ âm vang của hào khí Đông A:” Thái bình tu nỗ lực , vạn cổ thử giang san”. Đọc 2 bài thơ ta như còn nghe rõ hào khí Bình Ngô:” Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu, muôn thư ở nền thái bình vững chắc”. Nhìn tổng thể đây là 2 bài thơ chính luận..

 

                           Bài 1/ Dẹp loạn Đèo Cát Hãn ,qua Long Thủy đề thơ.

-         Hai câu phá đề : là 1 lời tự bạch về ý chí vượt ghềnh thác Tây Bắc, đi dẹp loạn khi đức vua sắp bước vào tuổi tri thiên mệnh

-         Hai câu thực: nhà thơ dùng lối ngoa dụ mô tả ý chí đó : quét sạch ngàn đám mây đen ,dời hết vạn quả núi hiểm.

-         Hai câu luận: Lê Lợi nêu ra quốc sách sau nạn binh đao: ổn định vùng biên,xây dựng xã tắc an lạc vững bền.

-         Hai câu kết: Mặc dù là thơ chính luận, nhưng tác giả đã kết luận bằng một ý thơ lãng mạn, sông Đà vẫn là sông Đà ghềnh thác (Đường lên Mường Lễ bao xa,Trăm 7 mươi thác , trăm 3 mươi ghềnh. 170+130=300), nhưng tác giả coi đó chỉ là sự hù dọa, trong con mắt nhà thơ, sông Đà hiền như giải lụa  ( thuận lưu khan)

  

             Xin kính trình 2 bản dịch của Bài 1:

 

I/         Đường hiểm gập ghềnh chẳng từ nan,

Trẫm già nhưng sắt dạ vàng gan.

Lòng son dời núi lâng lâng nhẹ,

Chí lớn quét mù nẻo nẻo  quang.

Trù tính vùng biên lo ổn thỏa,

Dựng xây xã tắc đặng bằng an.

Ba trăm ghềnh thác nghe đồn thổi,

Nay thấy dòng trôi quả thực nhàn.

 

II/               Chẳng ngại đường hiểm gập ghềnh,

Ta già lòng vẫn muôn phần sắt gang.

       Quét sương mù để trời quang,

Lòng son dời được muôn vàn núi cao.

      Vùng biên giữ vững không nao,

Nước nhà xây đắp anh hào dài lâu,

      300 ghềnh thác thấy đâu?

Mà nay dòng chảy xanh mầu bình an.

 

                  Bài 2 /Ngự đề của Thiên Nam Động Chủ

 

    -Hai câu phá: Là ý thơ tả thực, khung cảnh kì quan vịnh Hạ Long,các đảo đá nhấp nhô như quân cờ rải rác, vách thẳng vút lên trời…nhà thơ tức cảnh sinh tình.

    -Hai câu thực: từ tâm thức nhà thơ, LTT chuyển qua tâm thức nhà triết học trong tâm thế tự tin(tráng tâm) và quả quyết (tín thủ)  đặng phác ra đường lối đối nội đối ngoại.Ngài dẫn Kinh Dịch: quẻ Hàm hào cửu tam, và quẻ Tốn hào cửu nhị để diễn đạt ý mình.(dịch 2 câu thơ này, đối với tôi,cực như là mang voi bỏ rọ, dịch thơ là họa hổ thành miêu )

   -Hai câu luận: là hiện thực hùng hồn của phương lược triều đình:

                         Đời vua Thái Tổ Thái tông,

                  Lúa chín đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.

Là sự yên ổn của phên dậu Nước Nhà :bắt hổ dữ ,tắt khói hung.

     -Hai câu kết: là âm vang của thiên cổ hùng văn :” tứ hải vĩnh thanh” (Bốn phương biển cả thanh bình). Lần đến Văn bia Tiến Sĩ  VMQTG ,ta lại bắt gặp tứ thơ của LTT (được Trạng nguyên Thân Nhân Trung thể hiện): “ cập Vũ Công kì định ,Văn Đức đản phu”

(Khi Võ Công đã ổn định ,thì Văn Đức phải được mở mang, nói theo ngôn từ hiện đại là phải chú trọng kinh tế , văn hóa ,giáo dục ,pháp luật)

 

                Xin được kính trình 2 bản dịch của Bài 2/

 

I/         Chứa nước 100 sông mặt biển dâng,

Quân cờ rải núi  ,vách không trung

Cảm trời đất thuận lòng khắp chốn,

Lẽ hanh thông xuôi nẻo mọi dòng.

Bắc dẹp mối nguy ,bắt    hổ     dữ       

Đông tan khói độc ,mở trời trong.

Nước Nam mãi mãi bền sông núi,

Sửa Văn bớt Võ ,Trẫm giờ mong.

 

II/            Trăm sông ra bể mênh mông,

Đảo đá rải rác chập chồng trời xanh.

    Lòng son thấm đượm chân thành,

Nắm tay quả quyết thuận cùng gió uy.

     Phía bắc dẹp yên hổ nguy,

Biển tan khói độc ,từ nay quang trời.

     Nước Nam sông núi đời đời,

Sửa Văn bớt Võ là lời Trẫm ban.

.                       

 

                         

                            Tiết Cốc vũ năm Tân Mão

                    Thái Doãn Mại 11 ,Khu TT đài Mễ Trì

                               Từ    Liêm, Hà     Nội       

Tác giả TDM - Hà Nội