THÔNG BÁO

Choa nam moi.jpg    Năm cũ đã qua, năm mới - 2018 lại tới, những biến động của toàn thế giới cũng như những chuyển vận của đất nước ta. theo thời gian lùi dần về quá khứ

Đảng ta , nhân dân ta đang tập trung quyết liệt chống tham nhũng, và cải cách hành chính nhằm làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn    

     Không lúc nào hết, sự hoạt động văn hóa có một tầm quan trọng nó định hình và duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc, biểu lộ bản sắc của con người Việt Nam. Trung tâm NC BT và phát huy văn hóa dân tộc cũng như Hội thơ Đường luật Việt Nam năm qua có nhiều hoạt động rất tích cực ....

 

VÀO BẾP NÚC TÌM VỊ “NGỌT” CỦA ĐƯỜNG THI
27-03-2011
Đoàn thị Điem.jpg  Thi huynh Thái Doãn Mai - Mễ Trì Hà Nội vừa gửi tới bài viết , bàn luận về một góc cạnh thơ Đường xin trân trọng giới thiệu :

                Kính tặng các vị  Việt Kiều cao niên

   a/ Có chữ nghĩa thì nên luận bàn, ít chữ nghĩa thì nên phiếm bàn (nghĩa là gặp đâu tâu đấy). Tôi chọn phương án 2. Trước mắt tôi là 2 cuốn sách: thi nhân Việt Nam và Thanh Hiên thi tập. Tôi mạo phạm đặt cho 2 cuốn sách với 2 cái tên mới: Cuốn này gồm những bài thơ “ phóng túng”, cuốn kia gồm những bài thơ “qui củ”. Vì sao Thanh Hiên thi tập gồm những bài thơ gọi là qui củ. Lí lẽ đơn giản của tôi là:

          -Mỗi bài chỉ hạn định 20,40,28 hay 56 từ . (bị lượng tử hóa)

          -Trong mỗi bài có những cặp đối (từ loại và ý)

         -Toàn bài tuân thủ 3 luật : luật về niêm  (cùng thanh 5 cặp), luật về bằng trắc (nhị tứ lục phân minh) và luật về vần chân (5 vần)

Để thể hiên cái “vòng kim cô” này tôi bắt chước ai đó vẽ ra cái “ma trận” sau:

 image001.gif

 

 


 
   “Vừng ơi mở cửa ra” thì thấy gì?  t, b ( hay B) là những chữ mang thanh trắc hay bằng;  dấu(*) phân minh; dấu móc  {   với chữ n là niêm; B (in hoa) là 5 chữ cùng vần; nét đứt --- ý nói 2 câu liền kề đối nhau. Nhìn tổng thể sơ đồ có trục đối xứng dọc như ngôi nhà có mạch vữa, xà, cột, rường, kẻ mà anh thợ Trương Phi ghép hơi vất vả!

   Tôi có một mẹo vặt là từ bài thơ Qua Đèo Ngang ( Bà huyện Thanh Quan) suy ngược ra cái sơ đồ này

     b/Tôi cho rằng những năm 30 của thế kỉ qua, theo luồng văn hóa Tây nên người ta cổ võ thơ Tự Do và bác thơ luật, nguyên nhân của sự xung đột đó có lẽ là vì thơ Luật mang triết thuyết phương Đông:

        -Thuyết Âm Dương

       -Tính tương khắc , tương sinh

       -Vạn vật nhất thể (nhân sinh tiểu vũ trụ,mỗi bài thơ là một sinh mệnh- con đẻ của thi nhân,mà cơ thể là 1 khối hữu cơ thống nhất )

      -Người phương Đông nặng tư duy định tính, nên lấy cái vỏ định lượng để chế hóa

     -Đạo Nho đề cập đến 4 thành tố khi xây dựng chính sự: quân ,thần, phụ ,tử (Luận Ngữ chương 12  mục 21). Đối , niêm , vận có lẽ là “lễ” và “hòa” mà Nho giáo đề cập.

      Tôi e rằng lập luận vậy thì khiên cưỡng chăng ? tôi cũng không biết nữa!

     c/ Tôi có một tiêu ngữ ,để “thực tri kì vị “thơ Đường thì phải hiểu đúng từng chữ, cảm rồi thì dịch ra theo 2 thể: luật và lục bát. Dịch đơn thuốc và dịch thơ là 2 phong cách khác nhau nhiều ( Văn chương nào phải là đơn thuốc, chớ có khuyên xằng chết bỏ bu. Cụ Tú thành Nam). Tôi lấy bài thơ KÝ HỮU ( Gửi bạn) của Nguyễn Du trong Thanh Hiên thi tập) làm ví dụ:

 

Hồng Sơn sơn nguyệt nhất luân minh,

Thiên lí Tràng An thử dạ tình.

Thái phác bất toàn chân diện mục,

Nhất châu hà sự tiểu công danh.

Hữu sinh bất đái công hầu cốt,

Vô tử chung tầm thỉ lộc minh.

Tiển sát Bắc song cao ngọa giả,

Bình cư vô sự đáo hư linh.

 

 

        Ở 2 câu phá đề  : Nguyễn Du vẽ ra cái tâm trạng nhớ quê hương khi mình đang ở đất Thăng Long. Cụ là người nặng lòng với sông Lam núi Hồng, trong thi tập xuất hiện vô số những câu đại loại:

Hồng sơn thiên lí ỷ lan tâm

Bồi hồi chính ức Hồng sơn hạ

Bách lí Hồng sơn chính khí đồng

Sau này trong Truyện Kiều  có những câu làm kẻ tha hương phải se lòng, thắt dạ:

             Mối tình đòi đoạn vò tơ

     Giấc Hương quan luống vẩn vơ canh dài.

 

             Đoái trông muôn dặm tử phần

    Hồn quê theo ngọn mây Tần xa   xa

             Xót thay huyên cỗi xuân già

     Tấm lòng Cố Quốc biết là    nguôi.


      Ở 2 câu thực: là một mối mâu thuẫn, nhà Lê Trung hưng đổ, Nguyễn Du bơ vơ lí tưởng… sau đi làm quan cho nhà Nguyễn,  “ bất sự nhị quân ,”điều đó như con dao cắt ruột mình vậy (đoạn trường tân thanh hay chính đoạn trường Nguyễn Du !). Một cách tế nhị ,Người ví mình như viên ngọc nằm trên núi (Thái phác) phải đem ra trưng chốn thị thành. Cái khí chất Đào Tiềm không phù hợp với các chức danh tri huyện, Cai bạ, Tham tri bộ lễ, chánh Sứ Yên kinh. Có thể nói Nguyễn Du đi làm quan như Kiều bán mình chuộc cha chăng?

               Thân lươn bao quản lấm đầu,

        Chút lòng trinh bạch từ sau xin  chừa.

                Đã đành túc trái tiền oan ,

            Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà thôi

    Ở 2 câu luận : Theo tôi hiểu, Nguyễn Du - Người sinh ra nơi danh gia vọng tộc (Công hầu cốt), vì dâu bể của lịch sử mà rơi vào vòng xoáy:

          Xưa sao phong gấm rủ là,

  Giờ sao tan tác như hoa giữa đường

   Hàng chục năm sống ở Thái Bình , Hà Tĩnh trong cảnh :Táo đầu chung nhật vô yên hỏa (Bếp luôn lạnh lùng )

  Thâm đường xuất khâu dẫn (giun bò cả vào trong nhà), nên Nguyễn Du có cuộc sống và thói quen dân giã. Hồng Sơn liệp hộ chọn hươu nai làm bầu bạn (Thỉ lộc minh  là 1 cách nói )

     Vì vậy ta thấy trong con mắt của Người xuất hiện những thân phận con ong cái kiến như cô Cầm Thăng Long, Tiểu Thanh,  Mẹ con người ăn mày ở TQ, Đá Vọng phu ở Xứ Lạng,  và đặc biệt là Thúy Kiều:

         Thương thay cũng một kiếp người

    Hại thay mang lấy sắc tài làm chi

          Những là oan khổ lưu li

     Chờ cho hết kiếp còn gì là xuân .

 

     Ở 2 câu kết  Nguyễn Du đau đáu (Tiển sát) chọn ý nguyện của Đào Ngũ Liễu làm ý nguyện của mình, lánh đời ở ngọn gió mát nơi cửa sổ phía bắc, để tấm lòng yên tĩnh trong sáng, Cụ nói một cách cụ thể :

Nhãn để phù vân khan thế sự

Bế môn cao chẩm ngọa kì trung.

    (Thế sự bên tai chẳng bận lòng, cổng ngoài đóng kín ngủ thong dong)

 

    Hay : Trạm trạm nhất phiến tâm, Minh nguyệt cổ tỉnh thủy

       (Một mảnh TÂM trong trẻo , lòng giếng đón trăng lên )

          Hay sau này Người diễn nôm:

          Gương trong chẳng chút bụi trần

        Một lời quyết hẳn muôn phần kính yêu

    d/Tôi có một  “đại ngôn”: bài thơ Gưi Bạn là tiêu điểm của mọi tác phẩm của Nguyễn Du, vì là tiêu điểm nên nó nhỏ bé ( về kích thước) 56 chữ vẻn vẹn. Xin kính trình các thi hữu 3 bản dịch – một chút hương hoa – may tìm được một chút  thư tâm khi ở phương đông, phương tây đất rung trời chuyển:

                -Bản 1 :của Nhà thơ Quách Tấn

 

Đêm nay Ngàn Hống bóng trăng thanh,

Muôn dặm Tràng An một mảnh tình.

Ngọc phác không gìn nguyên diện mục,

Thân đời khéo buộc nẻo công danh.

Công hầu cốt ấy đâu sinh sẵn,

Hươu vượn duyên kia cốt để dành

Thong thả kìa ai song bắc tựa,

Chuyện ngoài chẳng bợn chút hư linh.

 

 

              Bản 2 :Thể luật của Thái Doãn Mai

Vời vợi trăng trong chốn núi Hồng,

Thăng Long ngàn dặm thức đèn chong.

Không còn nguyên khí đau mình ngọc

Một chút công danh bợn cõi lòng.

Ngọt bả tước hầu chưa bị lụy,

Ấm nồng thôn dã cả đời mong.

Bên song nằm khểnh chờ cơn gió,

Phẳng lặng gương trong - giếng nước trong.

 

          Bản 3: Thể lục bát của Thái Doãn Mai

 

Ngàn Hống thẳm, mảnh trăng trong,

Tràng An bao dặm mỏi mong sớm chiều.

Ngọc phác mờ bụi ít nhiều,

Chút công danh nhỏ đành liều vậy thôi.

Thói công hầu dứt lâu rồi,

Nơi thôn dã tìm một đời hàn huyên.

Ước ao nằm khểnh song hiên ,

Lòng như giếng cổ triền miên phẳng lờ.

 

     Thắp nén hương trầm  khấn nguyện Đại thi hào,

                                      xin được gọi Người là  Lam Hồng Xử Sĩ

         

                                                Tân Mão trọng Xuân

Tác giả Thai Doãn Mai - Hà Nội