Là một nhà khoa học – nhà khoa học Lâm nghiệp, vì thế thơ ông thiên về cây cỏ hoa lá, nhưng trong đó bao hàm một chút triết lý nhân sinh. Ông đến với thơ từ rất sớm, coi như một duyên nợ với mình và mong góp thêm chút ít làm đẹp cho đời. Biết nhiều chữ Hán , nên mảng thơ chữ Hán và dịch thơ cổ cũng rất đa dạng.
Vừa qua ông đã trình làng tập thơ” Thảo viên”.Nhà Xuất bản Hội nhà Văn . Sau đây xin giới thiệu một số bài thơ trong tập “Thảo viên” của ông :
Đông hàn tam hữu
Tùng, mai, trúc thụ tự tam nhân
Giống khác xa nhau lại kết thân
Do bởi trời xui hay đức hạnh
Mà nên tri kỷ chốn phong trần .
Qua đèo Ngang
Ngơ ngẩn tìm ai giữa chốn này
Chơi vơi đầu núi cánh chim bay
Đường mòn, chừng gẫy bao đòn gánh ?
Se lạnh lưng đèo ngọn gió may .
陸 游( 1125- 1210) thời Tống
山茶 一 树,
自冬 至 清 明 后 著 花 已
东 园 三 日 雨 兼 风
桃 李 飘 零 扫 地 空
惟 有 山 茶 偏 耐 久
绿 从 又 放 数 枝 紅.
Hán Việt
Sơn trà nhất thụ, tự đông chí
thanh minh hậu trước hoa bất dĩ
Lục Du (1125- 1210)
Đông viên tam nhật vũ kiêm phong
Đào, lý phiêu linh tảo địa không
Duy hữu sơn trà thiên nại cửu
Lục tòng hựu phóng sổ chi hồng .
Dịch thơ – Ngô Quang Đê
Mấy ngày mưa gió ở vườn đông
Rụng hết đào lê đất sạch không
Chỉ có trà hoa còn trụ vững
Khóm xanh lại trổ mấy cành hồng .