Đường về quê mẹ của Đoàn Văn Cừ viết theo thể thât ngôn tứ tuyệt, 6 khổ, 24 câu, vẽ lại hình ảnh người phụ nữ nông thôn VN khi xưa.

Muốn cho con cái không quên cội nguồn, người mẹ trẻ dắt các
con về thăm quê ngoại.
Bài thơ chỉ miêu tả khung cảnh đồng quê trên đường đi mà
không bình luận. Tác giả ’’chộp’’ lấy khoảng thời gian, không gian, khung cảnh
cánh đồng, làng quê… đẩy cảm xúc nghệ thuật lên cao rồi ghi lại. Chỉ tới
4 câu kết, nhàq thơ mới gían tiếp bày tỏ tâm tư thông qua nhận xét của dân
làng: Dẫn là thân phận ’’nữ nhi ngoại tộc’’, người phụ nữ thảo hiền vẫn không
quên quê cha đất tổ…
Theo nguyên tắc của thể thơ Đường, tác giả vào đề bằng hồi
ức của đứa con vẫn giữ lại trong trí tưởng hình ảnh lúc bé theo mẹ về thăm quê
ngoại:
U tôi ngày ấy mỗi mùa
xuân
Dặm liễu mây bay sắc trắng ngần
Lại dẫn chúng tôi về nhận họ
Bên miền quê ngoại của hai thân.
U - là cách gọi mẹ của dân mấy huyện xung quanh thành Nam. (gọi cha,
bố là Thầy). Nguyễn Bính người huyện Vụ Bản cũng xưng hô với mẹ như thế. Ông
đưa vào bài thơ Chân quê: Thầy U mình với chúng mình chân quê (1). Thế nhưng
dân ở hai huyện Giao Thủy, Hải Hậu – cũng là đất Nam Định - thì vẫn xưng hô: Bố -
Mẹ.
Hai thân (hay song thân)
- là cách gọi bố mẹ của những người có học thể hiện sự kính trọng, văn hoa. Nhà
thơ dùng cụm từ:: ’’dặm liễu – mây bay – (sắc) trắng ngần’’ - vừa như tả cảnh
trí (mây trắng bay…) nhưng cũng thể hiện cách điệu sắc đẹp ngoại hình của mẹ:
Tinh tế, thướt tha, uyển chuyển...
Tôi nhớ đi qua những rặng (cây) Đề
Những giòng sông trắng lượn ven đê
Cồn xanh, bãi tía kề liên tiếp
Người xới cà, ngô - rộn bốn bề.
Quê cụ Đoàn làng Đô Quan, xã Nam Lợi, huyện Nam Trực - nằm
cách chân đê sông Hồng không xa.
Tại sao lại có Những giòng sông trắng lượn ven đê ?
Dọc con đê, phía ngoài là sông Hồng - sông lớn nhất ở miền
Bắc, ven đê phía trong lại có những sông con lượn quanh. Nguyên do: Để chống
lại những cơn lũ gây vỡ đê khi nước sộng dâng cao mỗi mùa lũ tới, dân cư hai
bên bờ tả ngạn (Nam
Định) - hữu ngạn (Thái Bình), đào đất trên cánh đồng, đem bồi đắp đê ngăn nước.
Đê sông Hồng là con đê to nhất miền Bắc, bởi vậy đất đào nhiều, tạo thành những
con sông chạy dọc theo đê. Khoảng cách giữa đê chính và sông đào tuy không xa
nhưng khoảnh đất này khá lớn lại khó có thể trồng lúa vì khi xưa không có bơm
điện nên ở đây úng lụt.